Bà Chúa Nhất cùng con gái Nguyễn Thị Cẩm Hà


Những hình ảnh xưa quý hiếm có màu về Triều đình Huế cùng các quan đại thần và Bà Chúa Nhất cùng con gái Nguyễn Thị Cẩm Hà.
______________________
Bà Chúa Nhất, hoàng trưởng nữ của vua Dục Đức là chị cả của vua Thành Thái ,công chúa Mỹ Lương tức bà Chúa Nhất ,bà sinh năm 1872, vua Thành Thái em bà sinh 1879.

Bà Chúa Nhất tên thật là Nguyễn Phúc Tốn Tùy, sinh năm 1872 trong cung nhà Nguyễn, hoàng trưởng nữ của vua Dục Đức (Cung Tôn Huệ hoàng đế), chị cả của vua Thành Thái,vì bà vừa là con gái vua ,dù chỉ làm vua có 3 ngày, vừa là chị cả của vua nên dân chúng đã gọi bà là bà Chúa Nhất.

Năm 1897, bà được vua Thanh Thái phong là Mỹ Lương công chúa, bà có hai đời chồng,con gái của đời chồng trước gả cho ông Thượng thư Nguyễn Hy (con ông Nguyễn Thân - Cần Chánh điện đại học sĩ triều Thành Thái) thường được gọi là bà Thượng Hy, còn hồng sau của bà là ông Nguyễn Kế là anh ruột của con rể Nguyễn Hy, bà và ông Nguyễn Kế sinh ra cô Nguyễn Thị Cẩm Hà - thường gọi là Mệ Bông (hình dưới)

Về Công Chúa Nguyễn Thị Cẩm Hà , ái nữ của bà Chúa Nhất và phò mã Nguyễn Kế

Mệ Bông
Trịnh Bách

Vào cuối Xuân năm 1931, nhà báo Mỹ W. Robert Moore đã mục kích tại kinh đô Huế lễ đón tiếp vua và hoàng hậu Thái-lan sang thăm Việt Nam. Bà Hoàng Thái hậu phải đảm nhiệm việc tiếp khách, vì vua Bảo Ðại còn đang du học tại Pháp. Những nghi lễ và sự hoành tráng của các buổi tiếp tân, yến tiệc đã khiến ông Moore hồi tưởng lại những dịp lễ tương tự ở đế đô Bắc Kinh trước Cách mạng Tân Hợi 1911.

Những kỷ niệm thú vị nhất của nhà báo Mỹ này khi ở Huế là việc ông được một vị trưởng Công chúa triều Nguyễn tiếp kiến tại phủ riêng của bà. Ông Moore kể lại rằng: "Vị ái nữ xinh đẹp của Bà Chúa đã rộng lượng cho chúng tôi được thưởng thức tài nghệ đàn tranh của cô. Sau đó cô cùng vị sư gia khiếm thị và các nhạc sĩ đàn dây khác trong phủ hợp tấu, trong khi các ca công trẻ hát những bài ca Huế...". Nàng công nữ xinh đẹp ấy có cái tên rất "Huế" là Mệ Bông. Theo tục lệ cổ của triều Nguyễn, tất cả các thành viên của hoàng tộc đều được gọi là Mệ, và kèm theo là một cái tên nghe thật bình dân. Tiếng Mệ dần dà đã thành một âm thanh biểu tượng rất dễ thương của Huế.

Thân mẫu Mệ Bông là Công chúa Công Tằng Tôn Nữ Tốn Tùy, trưởng nữ của Cung Tôn Huệ Hoàng đế Dục Ðức (1883). Bà trở thành Trưởng Công chúa khi em trai bà là Hoàng đế Thành Thái lên ngôi năm 1889. Bà được sắc phong tước hiệu Mỹ Lương Công chúa năm 1897. Thường được gọi là Bà Chúa Nhất, Công chúa Mỹ Lương có công rất lớn đối với nghệ thuật tuồng cung đình của Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Ðội ca vũ tuồng cung đình do bà lập ra và huấn luyện trong phủ của bà đã trình diễn trong hoàng cung từ cuối triều Thành Thái, qua các triều Duy Tân, Khải Ðịnh, và nhất là Bảo Ðại. Bà Chúa cũng là một trong những sáng lập viên và mạnh thường quân chính của hội Lạc Thiện, lập ra để cứu tế, giúp đỡ đồng bào khốn khó, và các nạn nhân bị thiên tai quanh đế đô. Thân phụ của Mệ Bông là Thượng thư Nguyễn Kế, con trai của Diễn Lộc Quận công, một vị trưởng phụ chính nổi tiếng thời cuối triều Nguyễn.

Mệ Bông giờ đây đã là một lão bà ở tuổi cửu tuần, nhưng Mệ vẫn chỉ trả lời các câu hỏi liên quan đến tuổi tác bằng những nụ cười thật hiền. Khi tôi ngỏ ý muốn được gặp và phỏng vấn Mệ Bông vào đầu tháng 9-2001, thân quyến của Mệ tỏ ra lo ngại cho tôi. Sau khi bị tai biến mạch não, Mệ đã nằm liệt giường gần hai năm, nói năng rất khó và Mệ không còn nhớ gì... Thật ra Mệ Bông còn nhớ mọi chuyện rất rõ. "Lúc nào trong phủ Ðức Bà cũng nuôi năm chục người. Họ vừa là người giúp việc, vừa là tài tử, đào hát của đoàn tuồng.

Người chơi trống hay nhất trong phủ là ông Lon.

Người ca giỏi nhất trong đoàn là Mụ Liệu.

Ngoài ra còn Quy này, Ninh này, Thành này, Yến này... đông lắm! Ðức Bà cho họ huấn luyện cả ngày cả đêm...". Mệ cũng kể đến một điệu múa mà các vũ công trên đầu vấn khăn, trong mặc áo bào, xiêm, ngoài khoác áo lá tua. Ðây là điệu múa Nữ Tướng mà cậu của Mệ là vua Thành Thái rất ưa thích. Qua điệu múa có tính chất tuồng này, nhà vua đã biểu lộ một cách thụ động hoài bão của mình trong việc cứu đất nước ra khỏi ách thống trị của người Pháp.

Tuy Mệ Bông rất thành thạo về đàn tranh và ca Huế, Mệ chỉ học để tự tiêu khiển thôi. Phần lớn thì giờ của Mệ được dành cho các công việc trong cung. Trong khi Bà Tiên Cung Thái Hoàng Thái Hậu, bà nội ruột của hoàng đế Bảo Ðại, phải chăm sóc các việc lễ nghi, tiếp khách thì bà Chính cung Thái Hoàng Thái Hậu, tức bà Thánh Cung thường phải nằm nghỉ trong cung Trường Sanh do bị bệnh khớp nặng. Từ thủa nhỏ, Mệ Bông đã phải vào đọc sách, truyện giải sầu cho bà Thánh Cung. Vì Mệ rất thân với Hoàng Thái tử Thiền (tức Hoàng đế Bảo Ðại sau này), nên bà Thánh Cung cũng coi Mệ như cháu bà.

Các bà trong nội cung đều thích được Mệ Bông vấn khăn vành dây cho họ. Mệ Bông đã một thời nổi tiếng ở Huế về tài vấn khăn này. Khăn làm bằng nhiễu mỏng, dài từ 10 đến 21 thước tây. Khăn rộng khoảng 45 phân tây, được xếp lại còn chiều rộng chừng 5 phân tây. Người có tước phẩm càng cao thì khăn càng dài. Trước hết một đoạn khăn vấn được bao vào tóc để làm nền. Rồi khăn vành dây được cuốn tiếp theo, phủ ra ngoài. Khăn vành dây có vị trí rất quan trọng trong nghi lễ của triều đình Huế. Bà Ðệ Tam Ðiềm Tần của vua Khải Ðịnh đã phải ngủ ngồi nhiều ngày trong các dịp đại kỵ, để không phải vấn lại khăn. Mệ Bông rất hãnh diện về tài vấn khăn nhanh của Mệ, chỉ mất khoảng hơn nửa giờ. "Hoàng hậu Nam Phương thường mặc âu phục, nhưng mỗi lần cần đến triều phục thì bà lại cho vời tôi vào cung để vấn khăn cho bà".

Các hoàng đế cũng cần đến Mệ Bông vì tài bếp núc của Mệ. Khi Cựu Hoàng Thành Thái về thăm Huế năm 1953, sau suốt ba thập kỷ bị nhà cầm quyền Pháp an trí ở đảo Reunion bên châu Phi, ông đã quyết định: "Ở tại phủ chị Chúa để con Bông nó nấu cho ăn". Trái với sự tưởng tượng của mọi người, các hoàng đế ở Huế không chuộng những món yến tiệc cầu kỳ cho lắm.

Các đại yến 60 món, trung yến 40 món, và tiểu yến 30 món với ảnh hưởng Trung Quốc, thường được dùng để đãi quốc khách hay các quan. Còn mọi món ăn thường ngày để hoàng để ngự thiện có thể nói là đạm bạc. Trong cung có hai ông bếp chính là ông Lợi người bắc, và ông Nghĩa người Quảng Nam, để nấu các cỗ Âu. Nhưng mỗi khi trong cung cần đến tiệc Việt Nam thì Mệ Bông lại phải vào phụ Má Thống, Má Tròn, hai người bếp của các món Huế trong cung.

Ðối với Mệ Bông thì thời gian đã dừng lại khi nhà Nguyễn cáo chung với việc Bảo Ðại thoái vị năm 1954. Sự mất mát lớn nhất trong đời Mệ Bông xảy ra năm 1948, khi chiến tranh cướp đi mất người chồng trẻ yêu quý của Mệ. Mệ Bông không bao giờ tái giá. Niềm an ủi của Mệ bây giờ là Cung An Ðịnh ở An Cựu, nơi Hoàng thái hậu Từ Cung và một số mệnh phụ còn giữ lại được phần nào nếp sống xưa. Mệ vẫn hay vào cung sống với Bà, và giúp Bà với hai công việc ưa thích của Mệ là vấn khăn vành dây và bếp núc.

Năm 1954 lại biến đổi đời Mệ Bông thêm lần nữa. Người con gái độc nhất đang tuổi 18 của Mệ bỗng một hôm biệt tích. Tìm con đến tận Sài Gòn cũng không ra, Mệ gần như điên loạn. Mãi hai năm sau Mệ mới nhận được thơ của cô gửi từ Hà Nội cho biết cô đã tập kết ra Bắc để tham gia Cách mạng. Rồi sự bình yên của cung An Ðịnh cũng không còn khi ông Ngô Ðình Diệm ra lệnh quốc hữu hóa cung này. Sau đó ông Diệm lại triệu Mệ Bông về Sài Gòn để nhờ Mệ cố vấn cho các bữa yến tiệc trong Dinh Ðộc Lập. Từ đó Mệ không bao giờ trở về sống ở Huế nữa.

Khi “giải phóng” năm 1975, người con gái tập kết năm xưa lặn lội vào Sài Gòn tìm mẹ. Mệ Bông như được hồi sinh. Mệ xuống tóc để tạ ơn Trời, Phật, và từ đó Mệ chỉ vui với con cháu, ít khi ra ngoài. Lần cuối cùng Mệ Bông trổ tài vấn khăn vành dây là vào dịp đám cưới người cháu gái năm 1985. Các hình bóng một thời thân thương cũng đã dần dần ra đi. Hoàng hậu Nam Phương mất bên Pháp năm 1963, Bà Chúa Nhất mất năm 1964, Bà Ân Phi, vợ chính của Vua Khải Ðịnh mất năm 1978, Bà Hoàng quý phi Mai Thị Vàng, vợ Vua Duy Tân, mất năm 1980. Rồi Hoàng thái hậu Từ Cung cũng mất năm 1980. Hoàng đế Bảo Ðại, người anh em họ của Mệ, mất tại Pháp năm 1997.

Khi tôi đến thăm và phỏng vấn Mệ Bông vào đầu tháng Chín, như có một phép lạ, Mệ đã ngồi dậy được để mặc cái áo mệnh phụ tứ thân, giống như cái áo Bà Chúa Nhất mặc ngày xưa, và chụp ảnh lưu lại cho con cháu. Mệ cười thật tươi và đùa rằng nay Mệ được sắc phong.

Và khi bài viết này đang lên khuôn in, tôi nhận được tin Mệ Bông, tức Công nữ Nguyễn Thị Cẩm Hà, nhân chứng sống cuối cùng của cung vàng điện ngọc Nguyễn triều, đã qua đời ngày Mười chín tháng Chín, năm Hai ngàn lẻ một.

Xem thêm : webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:0G2-EOz1Vbk...

Sài Gòn Xưa
===========



Nguồn : Page Sài Gòn Xưa

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nhân Vật Lịch Sử khác