Các nghề nghiệp xưa


Bán đồ gốm, Hà Nội Bán trầu cau Lấy ráy tai dạo, Hà Nội Hớt tóc dạo, Sài Gòn Thợ mộc Thợ vẽ Nghề khảm trai Dệt tơ Người thu tiền Làm dầu ăn Làm giấy, Hà Nội Làm giấy, Hà Nội Thợ săn Nam kỳ Bán phở gánh, Nam kỳ Dàn nhạc lưu động, Hà Nội Họa sĩ tranh dân gian Hàng Trống. Thợ điêu khắc gỗ, Trung kỳ Bán trà Thợ rèn Nấu rượu, Nam Định Xem bói Nhạc sĩ, Nam Kỳ Gánh hát rong của trẻ em, Nam kỳ Một đoàn xe chở thơ Saigon Can-Tho Ðoàn vận tải thơ bằng chân! Xe phát thơ Saigon Tay Ninh Chỗ trú đêm trong rừng cho mấy người phát thơ Cắt tóc Thợ in tranh Thợ làm lọng, Hà Nội  Ad DTT Thợ xẻ, Bắc Kỳ  Ad DTT Thợ thuộc da  Ad DTT Cửa hàng bán cân tiểu ly  Ad DTT Cửa hàng bán đồ thiếc, Hà Nội  Ad DTT Cửa hàng bán đồ đồng thau (lư hương, chân nến, mâm, nồi...), Bắc kỳ  Ad DTT Thợ đan nón rơm, Bắc kỳ  Ad DTT Thợ khảm, Bắc kỳ  Ad DTT Thợ làm mành, Hà Nội  Ad DTT Thợ sửa và bán giầy dép  Ad DTT Thơ xe tơ, Bắc kỳ  Ad DTT Trường dạy nghề Hà Nội - Lớp dạy nghề khảm  Ad DTT Người bán trứng, Bắc kỳ 1904  Ad DTT Người bán gạo, Bắc kỳ  Ad DTT Bà thầy bói, 1921  Ad DTT Đan phên trên phố Hàng Mành, Hà Nội  Ad DTT Thợ đan mây tre, Bắc kỳ  Ad DTT Nhà nuôi tằm, Trung kỳ   Ad DTT Thợ làm tượng gỗ, Bắc kỳ  Ad DTT Thợ tiện, Hà Nội  Ad DTT Thợ tiện làm chân nến, Bắc kỳ  Ad DTT Thợ rèn, Hà Nội  Ad DTT Thợ kim hoàn, Hà Nội  Ad DTT Làm bánh đa, Bắc kỳ  Ad DTT Thợ rèn, Bắc kỳ  Ad DTT Hàng nước, Hà Nội  Ad DTT Nghề chạm gỗ, khảm trai  Ad DTT Thợ thêu lụa, Hà Nội  Ad DTT Phơi gạch, Hà Nội  Ad DTT Thợ thêu và thợ vẽ, Bắc kỳ  Ad DTT Thợ thêu, Bắc kỳ  Ad DTT Thầy bói  Ad DTT Thợ mộc, Hà Nội  Ad DTT Sản xuất giấy, Hà Nội  Ad DTT Thợ hàn nồi  Ad DTT Mua bán đồng nát ở Hà Nội  Ad DTT Vận chuyển hàng hóa bằng xe bù ệch (brouette) trên đường phố Hà Nội năm 1896. Các cô gái đi bán hoa bèo Nhật (Hà Nội 1894-1896).  Người chụp: Hocquard, bác sĩ phục vụ trong quân đội Pháp. Nghề lấy ráy tai ở Hà Nội, năm 1884-1886.  Người chụp: Bác sĩ Hocquard mô tả: “Người thợ cạo thành Seville và khách hàng của mình ngồi trên một chiếc ghế dài để hai chân hai bên, mỗi người một đầu. Họ ngồi đối diện với nhau trong khi dao cạo lướt trên mặt… Anh ta bắt đầu ngoáy tai một cách tỉ mẩn… và kết thúc bằng cách đưa cái hạt tròn cắm đầu que vào tận màng nhĩ rồi xoay tròn một cách nhẹ nhàng; đây là giai đoạn thú vị nhất, nếu ta nhìn nét mặt của khách hàng, hai mắt lim dim và bày tỏ khoái cảm tột độ Đi nơm bắt cá, thời Pháp thuộc. Nhổ mạ, thời Pháp thuộc. Những người ăn mày ở đất Bắc (thời Pháp thuộc). Một người bán mũ ở Nam Kỳ năm 1901 (Un marchand de chapeau ). Làm đường mật, năm 1911.   Fabrication des pains de sucre : mise en moules du sirop Khu dân cư trong một đồn điền cao su năm 1926 ở Phú Thứ (Biên Hòa?). Plantation de Phu Thu ; le personnel de la plantation Những vũ công ở thành Vinh (Nghệ An) năm 1903.  Danseuses Annamites à Vinh  http://belleindochine.free.fr/images/Brossard/DanseusesAnnamitesBrossard.jpg Xe cút kít (bù ệch-brouette) năm 1951.  Cấu tạo xe cút kít gồm một cái bánh xe bằng gỗ có đường kính 0,6m, dày 0,1m, trung điểm bánh xe có một cái lỗ tròn có đường kính 2cm để cho một cây trục xuyên qua. Người ta làm một cái sườn bằng tre, gồm có 2 đoạn tre dài hơn 1m gọi là càng xe, một bộ phận dùng làm chỗ cầm để kéo hay đẩy xe. Đầu trước của 2 cái càng đặt gần nhau khoảng 0,1m, hai đầu sau cách nhau 0,6m. Để cho 2 càng xe vững chắc, người ta đóng ngang qua 3 thanh tre, một thanh ở trước đầu cáng, cách 0,3m đóng qua ngang qua thanh thứ hai và lùi ra sau 0,3m đóng ngang thanh thứ ba. Khoảng trống giữa 2 thanh thứ 2 và thứ 3, ngang qua 2 càng xe, người ta đặt lên một cái ky lớn để đựng hàng. Người ta còn đóng vào 2 cái càng cách đầu sau 0,2m hai chân xe cao khoảng 0,6m để chống đỡ xe khi xe không di chuyển. Người ta dùng đoạn tre già dài khoảng 0,35m, đào lấy luôn phần gốc ở dưới đất (gọi là cù tre), chẻ ra thành 2 phần đều nhau, gọt sạch rễ tre ở phần cù tre và vót bào cho trơn láng. Ngay giữa mỗi cù tre đục một cái lỗ to bằng ngón tay cái để tra vào bánh xe làm trục cốt. Trục cốt đục lỗ ở cù tre sẽ không bị nứt ra. Hai mảnh tre có cù tre này tiếng địa phương gọi là cái càng mỏ. Đầu trên của càng mỏ đóng vào phía trước của đầu càng xe mỗi bên. Đầu 2 cù tre dưới ở vị trí 2 bên tâm của bánh xe. Dùng một cây tròn thật chắc nhỏ hơn lỗ tâm bánh xe xuyên qua và đóng chặt, chịu vào 2 lỗ phía dưới càng mỏ ở hai bên. Thế là hình thành một cái xe cút kít. Người ta thường đặt cái ky trên xe cút kít, chứa đất đá chuyển đi. Hai càng xe ở phía sau, gần chỗ tay nắm, người ta còn cột vào một sợi dây gánh phụ, tròng lên vai người đẩy xe đất khi xe di chuyển, đỡ gánh nặng cho đôi tay.  http://belleindochine.free.fr/images/Vietnam1951/0008.JPG Diêm dân thu gom muối ven bờ biển thời Pháp thuộc. Cọp mò vào nhà dân tìm mồi. Bẫy cọp Chuẩn bị làm thịt Con cọp bị bắt Đồ nghề của người dân đi đánh giậm (thời Pháp thuộc).  Nguồn: http://belleindochine.free.fr/images/IndochineProfonde/0023.JPG NGHỀ THÊU   Về bản chất nghệ thuật thêu tay là vô cùng tinh tế. Thêu thùa là công việc được nhắc đến và gắn với hình ảnh người phụ nữ, thế nhưng nghề thêu được nhắc đến từ ông tổ nghề thêu Lê Công Hành, là Quan thượng thư triều Lê, cũng là người làng Quất Động. Sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi.Ông được vua Lê Thái Tổ chọn dẫn đầu sứ đoàn sang Trung Hoa, trong thời gian này Ông được học cách làm lọng và nghề thêu truyền thống đặc sắc của người Trung Hoa, sau khi về nước ông đem những kiến thức đã học được dạy cho người làng Quất Động và vùng lân cận  Lê Công Hành sống ở cuối đời Trần, đầu đời Lê (khoảng thế kỷ 14), tên thật là Bùi Công Hành. Cuối đời Trần, ông lên đường dự thi vừa lúc quân Minh sang xâm lược nên khoa thi bị hủy. Ông ẩn náu trong rừng rồi theo Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh. Cuộc bình Ngô thành công, ông được Lê Thái Tổ trọng dụng. Đến đời Lê Thái Tông (1423-1442), Bùi Công Hành dẫn đầu đoàn sứ bộ đi sứ. Vua nhà Minh muốn thử trí thông minh của sứ thần nước Việt bèn cho dựng một lầu cao chót vót rồi mời ông lên chơi. Khi ông đã lên lầu, chúng bèn rút thang. Không còn lối xuống nữa, Bùi Công Hành đành ở trên lầu một mình. Đưa mắt nhìn quanh, ông chỉ thấy hai pho tượng sơn son thiếp vàng, một chum nước cùng hai cái lọng cắm trước bàn thờ. Ngoài cửa lầu treo một bức nghi môn thêu nổi ba chữ: Ngư dân kéo cá năm 1925. Bức ảnh này do nhiếp ảnh gia người Pháp  Jean Manikus chụp.  Pêcheur au carrelet 1925  © Ecole française d’Extrême-Orient/ Jean Manikus Một xưởng thợ thêu tại Hà Nội năm 1903. 1903 - Atelier d’un brodeur tonkinois, à Hanoi

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Ảnh Xưa Tổng Hợp khác