Chùa Bà Chợ Lớn Quảng Triệu Hội Quán - Chùa Bà Thiên Hậu ngày xưa


Quảng Triệu Hội Quán - Chùa Bà Thiên Hậu (theo cách gọi của người Việt) còn được gọi là chùa Bà Chợ Lớn, tên chữ Hán là Thiên Hậu miếu, người Hoa gọi là Phò Miếu (tức miếu Đức Bà), đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất của người Hoa đã gây dựng trên đất Đề Ngạn xưa, chùa Bà Thiên Hậu được nhóm người Hoa gốc Tuệ Thành (tức Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông) di dân sang Việt Nam thời phản thanh phục minh góp vốn và góp công xây dựng vào khoảng năm 1760 và được trùng tu nhiều lần.

Chùa nằm trong khu trung tâm của những người Hoa đầu tiên đến tạo lập nên Chợ Lớn sau này.

Sự tích chùa "Bà Thiên Hậu"



Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: Cách huyện Bình Dương 12 dặm, ở phía tả và phía hữu đường quan lộ.

Nơi chợ có đường thông ra tứ phía đi liên lạc như hình chữ "điền", nhà cửa phố xá liên tiếp thềm mái cùng nhau, người Hán, người Thổ ở chung lộn dài độ 3 dặm, đủ cả hàng hóa trăm thức,...đầu phía bắc đường lớn có đền Quan Công, quán Tam Hội, xây cất đối nhau phía tả và phía hữu. Phía tây đường lớn có chùa Thiên Hậu, gần phía tây có Ôn Lăng Hội Quán...

Theo học giả Vương Hồng Sển thì Thiên Hậu Thánh Mẫu (vị thần được thờ chính trong chùa) có tên là Lâm Mặc Nương, người đảo Mi Châu, thuộc Bồ Dương (Phước Kiến). Bà sinh ngày 23 tháng 3 năm Giáp Thân (1044), đời vua Tống Nhân Tông. Sau đó, tám tuổi bà biết đọc, mười một tuổi bà tu theo Đạo giáo. Mười ba tuổi, bà thọ lãnh thiên thơ: thần Võ Y xuống cho một bộ "Nguyên vị bí quyết" và bà tìm được dưới giếng lạn một xấp cổ thư khác, rồi coi theo đó mà luyện tập đắc đạo.

Một lần, cha bà tên Lâm Tích Khánh ngồi thuyền cùng hai trai (anh của bà), chở muối đến tỉnh Giang Tây để buôn, giữa đường thuyền lâm bão lớn...Lúc đó bà đang ngồi dệt vải cạnh mẹ nhưng xuất thần để đi cứu cha và hai anh. Bà dùng răng cắn được chéo áo của cha, hai tay nắm hai anh, giữa lúc đó mẹ kêu gọi bà, buộc bà phải trả lời, bà vừa hở môi trả lời thì sóng cuốn cha đi mất dạng, chỉ cứu được hai anh. Từ đó mỗi khi thuyền bè ngoài biển bị nạn người ta đều gọi vái đến bà. Năm Canh Dần (1110) nhà Tống sắc phong cho bà là "Thiên Hậu Thánh Mẫu"

Chùa xây theo hình ấn, là kiểu kiến trúc đặc trưng của người Hoa, đây là tổ hợp 4 ngôi nhà liên kết nhau tạo thành mặt bằng giống hình chữ "khẩu" hoặc chữ "quốc". Ba dãy nhà ở giữa tạo thành tiền điện, trung điện và hậu điện. Giữa các dãy nhà này có một khoảng trống gọi là thiên tỉnh (giếng trời), giúp không gian chùa thoáng đãng, đủ ánh sáng cho hậu cung và có chỗ thoát khói hương.

Trang trí ở các điện là hình hoa lá, chim thú và hoành phi, câu đối, biển tự thường là màu đỏ, vàng tạo sự ấm áp, tin tưởng. Chùa còn có các bức tranh đắp nổi liên hoàn, các con vật thuộc "tứ linh".

Chùa có gắn các tượng tròn, phù điêu bằng gốm dày đặc từ trên nóc chùa, mái, hiên chùa cho đến các bàn thờ, vách tường... do 2 lò gốm Bửu Nguyên và Đồng Hòa sản xuất vào năm 1908.

Kiến trúc độc đáo này được Vương Hồng Sển khen ngợi:

...Chùa ngày nay như ta thấy, toàn xây bằng vật liệu bên Tàu đem qua, từ viên gạch, tấm ngói, đến những đồ gốm gắn trên mái nóc đều do thuyền buồm chở sang đây, đến cách thức phong tô cũng giữ y thể thức Tàu, gạch xây liền mí không tô hồ, đếm rỡ từng tấm một, lằn hồ thẳng đường thẳng lối khít rịt và ngay bon như vẽ, thiệt là rất khéo và tưởng chừng thợ kim thời khó làm sắc sảo hơn được nữa. Truy ra chùa nầy trùng tu năm 1860 (Hàm Phong năm thứ 10). Ngày nay đứng sân chùa ngắm lên các cảnh chưng trên nóc bằng đồ gốm nung bên Tàu là biết được những phong tục Trung Hoa cổ thời, thuở vua chúa còn trị vì: đả võ đài, thi đậu vinh quy, công chúa tuyển phò mã, v.v... những vật này đáng được liệt kê vào sổ cổ tích vậy.


Thờ Cúng.



Tiền điện là hai trang thờ hai bên: Phúc Đức Chánh thần (phải) và Môn Quan Vương Tả (trái). Tại đây có bia đá ghi truyền thuyết về Thiên Hậu Thánh Mẫu và các bức tranh lớn vẽ cảnh bà đang hiển linh trên sóng nước.

Trung điện đặt bộ lư có năm món (ngũ sự) đúc năm Quang Tự thứ 12 (1886).

Chính điện, được gọi là Thiên hậu Cung, gian giữa thờ Bà Thiên Hậu, hai bên thờ bà Kim Hoa Nương Nương (phía phải) và Long Mẫu Nương Nương (phía trái), được biết pho tượng Bà Thiên Hậu tạc từ một khối gỗ nguyên cao 1m, có từ khá lâu, trước khi xây chùa, vốn được thờ ở Biên Hòa và đến năm 1836 mới di chuyển về đây. Hai pho tượng còn lại bằng cốt giấy sơn màu. Các pho tượng đều được khoác áo thêu lộng lẫy. Gian phụ nằm hai bên chính điện thờ Quan Thánh, Địa Tạng, Thần Tài.

Chùa Bà Chợ Lớn hàng ngày vẫn đón tiếp những người đến cúng lễ khá đông. Nhưng đông hơn là vào các ngày mùng một và rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của người Hoa như Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan ngọ... Đặc biệt, ngày 28 Tết, chùa tiến hành lễ cúng Bà và Lễ khai ấn, cầu mong Bà phò trợ cho "Hộ quốc an dân" và "Hợp cảnh bình an". Riêng ngày vía Bà (23 tháng 3 âm lịch]) được xem là ngày hội chính của chùa.

Vào ngày này, bà con người Hoa, người Việt đến cúng lễ rất đông. Ngay từ đêm hôm trước tại chùa đã cử hành Lễ tắm Bà. Sáng ngày 23, mọi người lại tổ chức Lễ rước Bà: Tượng Bà được đặt vào kiệu do các thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp đẽ diễu qua các đường phố quanh chùa. Theo sau kiệu có thuyền rồng, các tấm bảng đỏ ghi tên các vị thần được thờ phụng trong chùa, các đội múa gồm: múa lân, múa sư tử, múa rồng, các đội nhạc dân tộc vừa biểu diễn vừa múa hát, tạo nên một quang cảnh náo nhiệt trong các khu phố đông đảo người Hoa...
..,các cơ sở hoạt động từ thiện xã hội của chùa Bà Thiên Hậu là Trường THCS Mạch Kiếm Hùng và bệnh viện Nguyễn Tri Phương, ngoại trừ chùa Bà Thiên Hậu Chợ Lớn, ở Thành phố Hồ Chí Minh có ít nhất 6 nơi khác cũng thờ bà Thiên Hậu: Miếu Thiên Hậu (134 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1), Quảng Triệu hội quán (122 Bến Chương Dương, quận 1), Quỳnh Phủ hội quán (276 Trần Hưng Đạo, quận 5), Tam Sơn hội quán (116 Triệu Quang Phục, quận 5), Hà Chương hội quán (802 Nguyễn Trãi, quận 5), Quần Tân hội quán (2 Lý Thường Kiệt, quận Gò Vấp).

 qúy vị lưu ý : Có hai miếu Thiên Hậu rất giống nhau nếu quý vị nhìn không kỷ sẽ rất dễ bị nhầm lẫn nhé.


Một của Tuệ Thành Hội quán gọi là chùa Bà Thiên Hậu Chợ Lớn, một cái khác của Quảng Triệu Hội quán, nhóm người Quảng Đông ở ngoài Sài Gòn, gần cầu Ông Lãnh, giờ nằm trên đường Đại lộ Đông Tây.

Chùa Bà Chợ Lớn lập trước chùa Bà cầu Ông Lãnh một trăm năm. Cùng là chùa của người Quảng Đông nên kiến trúc tương đồng.

Về kiến trúc mái, tường, trang trí và cả cổng ngoài cổng trong cực kì giống nhau. Điểm duy nhất để phân biệt ngoài cái bảng tên là hai lối đi và hai gian nhà ở hai bên. Chùa Quảng Triệu lối đi hai bên hẹp hơn và hai gian nhà cũng hẹp hơn Chùa Tuệ Thành.

Xin hết

  :       Empire colonial de la France. LIndo-Chine : Cochinchine, Cambodge, Laos, Annam, Tonkin . Préface par Marcel Dubois. Texte par Gervais-Courtellemont, ***, Vandelet, etc.   Author :       Gervais-Courtellemont, Jules (1863-1931). Auteur du texte   Author :       Vandelet. Auteur du texte   Publisher :       Firmin-Didot (Paris)   Publication date :       1901   Subject :       Indochine française   Subject :       France -- Colonies -- Histoire   Type :       text   Type :       monographie imprimée   Language :       french   Language :       français   Format :       In-fol., XV-195 p., fig. et carte   Format :       Nombre total de vues : 226   Description :       Contient une table des matières   Description :       Avec mode texte   Rights :       public domain   Identifier :       ark:/12148/bpt6k5849466z   Source :       Bibliothèque nationale de France, département Philosophie, histoire, sciences de lhomme, FOL-LK10-428   Relationship :          Provenance :       Bibliothèque nationale de France   Date of online availability :       22/07/2010
: Empire colonial de la France. LIndo-Chine : Cochinchine, Cambodge, Laos, Annam, Tonkin . Préface par Marcel Dubois. Texte par Gervais-Courtellemont, ***, Vandelet, etc. Author : Gervais-Courtellemont, Jules (1863-1931). Auteur du texte Author : Vandelet. Auteur du texte Publisher : Firmin-Didot (Paris) Publication date : 1901 Subject : Indochine française Subject : France -- Colonies -- Histoire Type : text Type : monographie imprimée Language : french Language : français Format : In-fol., XV-195 p., fig. et carte Format : Nombre total de vues : 226 Description : Contient une table des matières Description : Avec mode texte Rights : public domain Identifier : ark:/12148/bpt6k5849466z Source : Bibliothèque nationale de France, département Philosophie, histoire, sciences de lhomme, FOL-LK10-428 Relationship : Provenance : Bibliothèque nationale de France Date of online availability : 22/07/2010
  1967-69 by  Fred Wehausen
1967-69 by Fred Wehausen
 Annam, pagode chinoise de Phé-Pho
Annam, pagode chinoise de Phé-Pho
 Pagode Chinoise de Cholon Indochine ca 1894    Source: “La Cochinchine et ses habitants”, by J. C. Baurac, 2 vol., Rey, Curiol & Cie, Saigon, 1894 [photograph was taken by the author].     Cochinchine et ses habitants, T?p 2    N?i dung  Bornes Superficie Fleuve Rachs Canaux Routes  	10  	  Hôtel de ville de Mytho  	12  	  Mytho ville Pont en fer à travées mobiles Rue des Cocotiers  	16  	  Ancien hôpital indigène à Mytho  	20  	  Rachmiêu Itinéraire de Chogao ou de Mytho à Rachmièu Popu  	21  	  Pont à travées mobiles sur larroyo de la Poste  	24  	  M le Tongdôc Lôc  	30  	  Inspection de Gôcông  	48  	  Montdepiété et poissonnerie à Gôcông  	50  	  Tombeau des rois à Gôcông  	54  	  Tumeur du crâne  	58  	  Quai de Gôcông  	62  	  Canal Salicetti  	65  	  Marché de Chading  	67  	  Rach et passerelle de Vinhloi  	69
Pagode Chinoise de Cholon Indochine ca 1894 Source: “La Cochinchine et ses habitants”, by J. C. Baurac, 2 vol., Rey, Curiol & Cie, Saigon, 1894 [photograph was taken by the author]. Cochinchine et ses habitants, T?p 2 N?i dung Bornes Superficie Fleuve Rachs Canaux Routes 10 Hôtel de ville de Mytho 12 Mytho ville Pont en fer à travées mobiles Rue des Cocotiers 16 Ancien hôpital indigène à Mytho 20 Rachmiêu Itinéraire de Chogao ou de Mytho à Rachmièu Popu 21 Pont à travées mobiles sur larroyo de la Poste 24 M le Tongdôc Lôc 30 Inspection de Gôcông 48 Montdepiété et poissonnerie à Gôcông 50 Tombeau des rois à Gôcông 54 Tumeur du crâne 58 Quai de Gôcông 62 Canal Salicetti 65 Marché de Chading 67 Rach et passerelle de Vinhloi 69


Nguồn : Page Sài Gòn Xưa

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Địa Danh Xưa khác