Cuộc đời vua Gia Long - Nguyễn Phúc Ánh


Trong lịch sử nước ta, có một số danh nhân mãi mãi là một ẩn số cho hậu thế. Những ca ngợi và chê bay của người đời dường như không thỏa đáng cho công và tội của họ.

Mỗi thời kỳ, mỗi quan điểm, mỗi lập trường…lại nhận thấy ở họ những góc độ khác nhau, nhưng phần lớn là để phục vụ cho mục đích của người nhận định, làm cho việc tìm hiểu về hành trạng của họ càng khó khăn hơn bởi lớp bụi thời gian, lòng đố kỵ, thù hằn …và cả ngu dốt.

Một trong những nhơn vật lịch sử gánh chịu sự cay nghiệt của hậu thế bởi sự nhỏ nhen ngu dốt chính là Nguyễn Phúc Ánh

Nguyễn Phúc Ánh sinh năm 1762, là con thứ 3 của Thái tử Nguyễn Phúc Luân.

Khi lên 4 tuổi, quyền thần Trương Phúc Loan bắt giam cha Ngài tống ngục bỏ đói đến chết.

Khi Ngài lên 9 tuổi, quân Trịnh và Tây Sơn đánh chiếm Phú Xuân, lên đường bôn tẩu.

Khi Ngài 16 tuổi, tất cả vương thất chúa Nguyễn bị Tây Sơn tàn sát.

Khi 17 tuổi, Ngài được quân lính và nhân dân vùng Gia Định tôn là Đại Nguyên Soái Nhiếp Quốc Chính.

Tháng 1 năm 1780, khi 19 tuổi, Ngài xưng vương tại thành Gia Định.

Tháng 2 năm 1782, Nguyễn Huệ cùng vua anh Thái Đức mang binh thủy bộ nam tiến. Gia Định thất thủ. Ngài chạy sang Chân Lạp. Tây Sơn không ngừng truy sát Ngài chạy khắp Nam Bộ và Chân Lạp. Quân Chân Lạp trở mặt, bắt tay với Tây Sơn bán đứng Ngài.

Ngài thoát được, chạy về Nam bộ rồi vượt biển ra đảo Thổ Chu, đảo Phú Quốc….

Trong cả dãy đất nước, biển cả phương Nam này không nơi nào không có dấu chân bôn tẩu của Ngài.

Đầu năm 1785, quân Tây Sơn truy kích tận đảo Thổ Chu, Ngài phải chạy qua Xiêm La.

Thế cùng, Ngài cầu viện Xiêm La, mang quân về chiến lại Nam Bộ.

Quân Xiêm khi vào nước ta cướp boc vô cùng dã man.

Ngài rất đau lòng. Vua Thái Đức sai Long Nhương tướng quân – Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm lẫy lừng tại trận Rạch Gầm – Xoài Mút.

Ngài tiếp tục bôn tẩu qua Xiêm. Ở Xiêm La,

Ngài giúp họ đánh bọn hải tặc…nên được hậu đãi.

Sau ba năm, thấy thế lực Ngài ngày càng mạnh. Họ sinh ngờ vực, Ngài lại lên đường quay về lại Nam bộ.

Nhân lúc vua Quang Trung đối phó với quân Thanh ở Bắc Hà, năm 1788, Ngài chiếm lại Gia Định và cả Nam bộ.

Năm 1789, đoàn cầu viện nước Pháp của Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh và Bá Đa Lộc về đến Gia Định với một số vũ khí mà Bá Đa Lộc đã tự thân vận động một số nhà tư sản Pháp ủng hộ.

Trong những ngày bôn tẩu, lưu vong, Ngài đã nếm trải qua mọi khó khăn, gian khổ, thoát chết trong làn tên, mũi đạn…

May mắn thay! Cộng đồng các dân tộc ở Nam bộ vẫn còn nặng lòng với chúa Nguyễn và kinh hãi trước sự tàn bạo của một bộ phận không nhỏ quân Tây Sơn nên luôn che chở, đùm bọc Ngài trong lúc gian nguy.

Cũng từ đó mà, trong lòng Ngài luôn dành một thiện cảm cho đất phương Nam

Từ đó, Ngài ra sức xây dựng và ổn định Gia Định và Nam bộ, kinh tế - xã hội nhanh chống phục hồi và phát triển.

Ngài rất quan tâm đến việc mở mang thủy – hải quân và phát triển kinh tế nông nghiệp – thương nghiệp.

Với những chính sách đúng đắn, cùng sự trưởng thành của những nhân tài phò trợ Ngài…Nam bộ trở nên vững mạnh, đủ sức để thực hiện khát vọng của Ngài là thống nhất đất nước nối lập nền đại thống sau mấy trăm năm.

Sau cái chết của vua Quang Trung, phong trào Tây Sơn đi vào thoái trào, bộc lộ những tử huyệt không gì cứu vãng được.

Sau 28 năm bôn tẩu, lưu vong, chiến đấu…năm 1802, Ngài dẹp tan các lực lượng chống đối cuối cùng của Tây Sơn, Ngài chính thức đăng cơ, định đô tại Phú Xuân, lấy niên hiệu Gia Long, quốc hiệu Nam Việt (đến năm 1804 chính thức đổi thành Việt Nam, sau những đàm phán phức tạp với Đại Thanh).

Sau 18 năm trị vì, Ngài băng hà năm 1820, có miếu hiệu là Thế tổ Cao hoàng đế.

Như vậy trong lịch đại đế vương nước ta, từ thời Kinh Vương thỉ tổ đến thời đó không có vị nào gian truân bôn tẩu như Ngài cũng như sau đại định được trị vì lâu như Ngài;

Từ Tiên Hoàng đế triều Đinh không vị đế vương nào cai quản một giang sơn to lớn bằng Ngài.

Bằng một ý chí kiên định, một quyết tâm không gì lay chuyển nổi, một mối thù bất cộng đái thiên, một tinh thần chiến đấu và học hỏi không mệt mỏi…và một may mắn đến ngạc nhiên, Ngài đã vượt qua tất cả mà nguyên vẹn, an toàn lên ngôi Hoàng đế.

Nếu không có một người chú như Định Vương – Nguyễn Phúc Thuần,

Những tướng sĩ, quan lại trung thần dưới trướng như: Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tồn, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Võ Tánh…,

Một người mẹ như Hiếu Khang Hoàng Thái Hậu, những người vợ như Tống Phúc Hoàng Hậu, Trần Thị Hoàng Phi,

Những người con như Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh, Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm và hơn hết là tất cả cộng đồng các dân tộc ở phương Nam này hết lòng đùm bọc, chở che, đóng góp sức người, sức của thì mạng sống của Ngài còn khó giữ chứ bàn chi đến công đại định.

Chỉ một sơ xuất nhỏ, một cơn sốt rét, một hàm cá mập, một cú táp cá sấu…đã kết thúc mạng sống và sự nghiệp của Ngài từ thời là một cậu bé 9 tuổi trôi dạt giữa biển cả, giữa các thế lực và giữa lòng nham hiểm của con người.

Nếu nói theo tâm linh thì Ngài là một người có phúc rất lớn, được thần – nhân phò trợ nên mới được như vậy. Từ đó sự việc, bôn tẩu để khôi phục sự nghiệp chúa Nguyễn và thống nhất sơn hà Nam Việt là một huyền thoại. Huyền thoại cho cả người trong cuộc lẫn dân gian đã tạo thành một điển tích rất Việt Nam là “Gia Long tẩu quốc”, có nghĩa là Gia Long chạy tìm đường phục quốc. Điển tích này đi vào thi văn, tuồng tích đặc biệt trên đồ sứ ký kiểu.

.Bôn tẩu vào Nam, Ngài như người cùng đường, gia quyến bị sát hại, chạy khắp nơi, người dân miền Nam che chở, cưu mang Ngài.

Khi sống với họ, Ngài cảm nhận những nét đẹp trung – nghĩa từ những con người bình thường, chân chất ấy. Họ đã kề vai, sát cánh cùng Ngài dựng nên đại nghiệp, nối lại đại thống.

Những con người ấy khác chi ẩn sĩ, có thua chi lương đống chốn miếu đường!

Làm sao có bia công thần nào lớn đủ để tạc hết tên những con người rất thực mà vô danh ấy. Ngài và các hậu duệ của Ngài vẫn hoài niệm về phương Nam.

Khi về sống tại triều ca, nỗi nhớ phương Nam cũng như những ân nhân trong những ngày bôn tẩu, các Ngài đã cho làm đồ sứ có hình ảnh xưa.

Người ta thường cho rằng đó là vua Gia Long và các vua sau muốn nhắc đến “thánh đức thần công” phục nghiệp của Ngài. Nhưng theo thiển ý của người viết bài này, đó là những tượng đài sống động để Ngài tri ân những con người, những tấm lòng đã tiếp giúp Ngài trong buổi quốc phá, gia vong. Họ đã đứng về phía Ngài khi Ngài không còn gì cả (qua hình ảnh chiếc lọng/ dù/ ô đã xập xuống). Họ đã tha thứ cho Ngài khi Ngài phạm phải sai lầm là mượn quân Xiêm vì hơn ai hết, họ và Ngài hiểu nhau, sống thật cùng nhau, họ biết Ngài không cố tình, khi họ khổ thì Ngài cũng đau. Hình ảnh mặt nước phẳng lặng, nói lên sự đồng cảm của thiên nhiên hay chính của trăm họ trời Nam đối với Ngài.

Ngài ngầm nhắc với hậu duệ tình cảm tốt đẹp đó, món nợ ân tình lẫn xương máu mà Ngài đã mang về từ phương Nam ấy. Trước đây có người nói, hai câu thơ trên bộ trà mai – hạc là của Ngài.

“Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là Bạn cũ, hạc là Người quen”

Nhiều người phản đối nhưng tôi tin phần tâm tư của câu thơ đó chính của Ngài.

Ngày nay, có nhiều ý kiến về công và tội của Ngài và mãi mãi về sau này cũng thế!

Nhưng khi hôm đọc được tư liệu viết về Ngài tự mình mang quân ra cắm cờ, khẳng định chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa trên biển Đông dù người đương thời hiện đại, tân tiến không hiểu nổi thâm ý trong hành động đó của Ngài.

Và đến nay, Ngài là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên của những nước tranh chấp trên biển Đông đặt chân đến Hoàng Sa – Trường Sa thực thi chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc. Khi đi về miền Tây Nam Bộ, đâu đó có cồn Long Ẩn, huyện Long Hồ, xã Phong Điền, dòng suối Tranh…Khi mà âu Rạch Chanh đi vào vận hành nối đường thủy Sài Gòn với miền Tây thuận tiện hơn 50 km. Đây cũng chính con rạnh xưa, người dân đã giúp Ngài rút nhanh về tứ giác Long Xuyên khi quân Tây Sơn tấn công như vũ bão.

Pha một tuần trà bằng bộ chén trà này, nhìn khói nước bay qua ánh ráng chiều cuối đông xuyên qua song cửa mà lòng miên man về một chiều xa xôi, lá cờ đất vàng, trời đỏ, biển xanh của nước Việt Nam đang phất phới trên đảo xa, in hình trên nền biển thẩm, trời xanh, dưới bóng cờ là hình ảnh vị vua già tay vịn đốc kiếm vàng, tay vuốt chòm điểm bạc nhìn về lá cờ đế quốc và biển Đông mênh mông, khẽ nở một nụ cười mãn nguyện cùng biển trời và muôn đời hậu thế.

Tiếng trống trẻ chơi trò múa lân mừng xuân mới, ta chợt quay về thực tại, hớp một ngụm trà, hương thật thơm mà vị sao dường như mằn mặn!

Dĩa và tách uống trà triều vua Gia Long (1802-1820).



Nguồn : Page Sử Nước Nam

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nhân Vật Lịch Sử khác