Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan.



Trong khoảng ba mươi lăm năm từ cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, chính sử Trung Quốc không cho ta biết bao nhiêu về tình hình tại An Nam. Tuy nhiên tình hình tại Trung Quốc bước vào một giai đoạn suy thoái tạm. Năm 690, Vũ Hậu Tắc Thiên phế bỏ nhà Đường lập ra nhà Châu. Tắc Thiên giữ quyền cai trị đến năm 705 mới bị truất phế. Nhà Đường trung hưng. Nhưng trong thời gian này, toàn bộ đế quốc Đường ở vào trong tình bất ổn. Tinh thần quan lại đi xuống, tình trạng tham nhũng tràn lan. Tại những vùng biên duyên như đất An Nam, các quan lại lại càng mặc sức tham nhũng, bóc lột nhân dân. Tình trạng sa đọa của các quan lại thời đó xuống đến nỗi, trong thời Trung Tông (705-709) viên An Nam Đô Hộ là Khúc Lãm đã bị chính một thuộc viên của y giết chết vì quá tham lam và tàn ác.
Trong những năm này vì vậy sự cai trị của nhà Đường tại nước ta, hoàn toàn dựa trên vũ lực và sự đàn áp. Đến năm 722, tình hình đã chín mùi cho một cuộc khởi nghĩa mới. Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan tại Hoan Châu (Nghệ An).
Trái với cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến, vốn là một cuộc khởi nghĩa thuần túy của nông dân Lạc Việt, cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan có liên hệ nhiều với những diễn biến xảy ra tại các vùng khác của Đông Nam Á. Để có thể hiểu thêm về cuộc khởi nghĩa này ta cần phải nhìn lại những chuyện gì xảy ra ở phía Nam đất An Nam thời đó.
Trong những thế kỷ từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 6, đế quốc Phù Nam cực kỳ hưng thịnh đã giữ yên ổn con đường hàng hải ở phía Nam biển Đông. Trong giai đoạn này, đạo Phật tại Phù Nam hưng thịnh đến nỗi vào năm 535, một phái bộ của Trung Quốc đã đến Phù Nam để xin kinh Phật cũng như xin gởi tăng lữ sang Trung Quốc để giảng dạy kinh Phật. Nhưng đến cuối thế kỷ thứ 6 (khoảng năm 598), Phù Nam bị một vương quốc mới nổi lên, vương quốc Chân Lạp chinh phục. Đế quốc Phù Nam sụp đổ để một khoảng trống quyền lực trong vùng này. Trong suốt thế kỷ thứ bảy, vùng hạ lưu sông Mê Kông và các hải đảo rơi vào tình trạng phân hóa và hỗn loạn. Trên đại lục, Chân Lạp phát triển cả sang phía Bắc và phía Tây và dưới thời vua Isanavarman đã thần phục được cả Lâm Ấp, sửa soạn cho giai đoạn Angkor vinh quang của đế quốc Khmer vào thế kỷ thứ 9. Trong khi đó ngoài hải đảo, tại Java và Sumatra, các vương triều mới lập sau sự sụp đổ của đế quốc Phù Nam đấu tranh với nhau để dành quyền bá chủ trên biển.
Cũng trong thời gian đó vương quốc Lâm Ấp ở phía nam nước ta cũng rơi vào tình trạng khủng hoảng. Năm 645, vua Lâm Ấp là Phạm Chấn Long bị bầy tôi là Mahaman Đa Gia Đốc giết chết, cùng với cả họ. Họ Phạm tuyệt diệt từ đó. Dân trong nước lập Bhadresavarman con của em gái Chấn Long với người chồng Bà La Môn lên làm vua, nhưng ít lâu sau lại phế bỏ Bhadresavarman mà lập cháu họ của Chấn Long làm vua vào năm 653, lấy hiệu là Vikrantavarman. Chính trong giai đoạn này, sách sử Trung Quốc không thấy nhắc đến tên Lâm Ấp nữa mà đưa ra một tên mới là Hoàn Vương. Trung tâm chính trị của Lâm Ấp cũng chuyển về phía nam, từ khu vực My Sơn - Trà Kiệu hiện nay chuyển xuống vùng Phan Rang-Nha Trang.
Sang thế kỷ thứ 8, vương quốc Sumatra, Srijivaya đánh bại được các vương quốc cạnh tranh và nắm quyền kiểm soát mặt bể. Thuyền của Srijivaya đi đánh phá khắp nơi, có lần đổ bộ lên cả miền Bắc nước ta cướp phá, sử Trung Quốc gọi là giặc Chà Và.
Tình trạng rối loạn tại Lâm Ấp và các nước phía Nam đã đẩy nhiều loạt người tỵ nạn chạy sang vùng phía Nam của An Nam sinh sống, đặc biệt là tại châu Hoan (Nghệ An) Điều tra nhân hộ khẩu triều Đường cho thấy giữa hai kỳ kiểm tra vào năm 700 và 742 số hộ khẩu đăng ký tại Hoan Châu đã gia tăng 46 phần trăm trong khi số nhân khẩu tăng 200 phần trăm. Nếu so sánh số nhân khẩu trung bình trong mỗi hộ, ta thấy tỷ số này cũng tăng gấp đôi, chứng tỏ rằng những người di cư mới đi chạy sang An Nam mang theo cả đại gia đình và giòng họ chứ không phải kiểu cá nhân như trường hợp di dân Trung Quốc tại miền Bắc.
Chính trong hoàn cảnh quốc tế và quốc nội đó, Mai Thúc Loan đã dựng cờ khởi nghĩa tại châu Hoan. Theo sử ta, Mai Thúc Loan, người Thiên Lộc (nay là Can Lộc, Hà Tĩnh) có sức khoẻ, da đen, nổi dậy chiếm miền trung lưu sông Lam xây thành đắp lũy trên núi Hùng Sơn (Nam Đàn, Nghệ An) chống lại quân Đường tự xưng hoàng đế, tục gọi là Mai Hắc Đế. Sau Hắc Đế liên kết được với dân thuộc 32 châu lại kết giao với Lâm Ấp ở phía Nam, Chân Lạp ở phía Tây và nước Kim Lân (có thể là Sumatra hay một nước thuộc Mã Lai) mang quân ra bắc đánh chiếm phủ thành. Đô Hộ là Quang Sở Khách phải bỏ thành chạy. Mai Hắc Đế làm chủ nước nam, quân đội đông đến 40 vạn. Đường sai Tả Giám Môn Vệ Tướng quân là Dương Tư Húc sang đánh. Tư Húc chiêu mộ được hơn 10 vạn quân, cùng Quang Sở Khách mang quân đi theo đường cũ của Mã Viện ven theo bờ biển, xuất kỳ bất ý tiến đánh Hắc Đế. Hắc Đế không kịp đối phó, bị thua to, phải trốn chạy rồi chết. Tư Húc tàn sát quân nổi dậy, chôn xác thành một cái gò cao rồi về.
Ba mươi hai châu mà Mai Hắc Đế liên kết được chắc hẳn là những châu cơ mi. Nhà Đường đặt nhiều châu cơ mi để ràng buộc những dân thiểu số miền núi. Đã có thời có đến 27 châu cơ mi nằm trong sự kiểm soát của Phong Châu và khoảng một chục châu nằm trong sự kiểm soát của Hoan Châu. Như vậy ta có thể thấy những thành phần đi theo Mai Hắc Đế rất là phức tạp. Họ bao gồm những đám quân nước ngoài (Lâm Ấp, Chân Lạp, Sumatra), dân thiểu số miền núi cùng với nông dân vùng đồng bằng. Chính nguồn gốc Hắc Đế cũng có nhiều điều không rõ. Xuất thân từ một làng nghèo ven biển, nước da đen của ông có thể là một dấu hiệu ông có giòng máu Lâm Ấp hoặc Mã Lai trong người.
Đạo quân 40 vạn người của Mai Hắc Đế chắc chắn là một đạo quân ô hợp ; có lẽ bao gồm nhiều nhóm khác nhau. Khó có thể tưởng tượng một sự hòa hợp giữa những đội dân quân của nông dân, nổi lên chống lại sự áp bức của quan lại Đường với những đám quân Lâm Ấp, Chân Lạp mà mục tiêu tham gia vào chỉ cốt để cướp bóc. Có lẽ vì vậy mà ông đã thất bại mau chóng trước một số quân Đường ít hơn. Điều chắc chắn là các sử gia Việt Nam đã không coi trọng Mai Hắc Đế bằng bà Trưng, bà Triệu hoặc Lý Bí những người đã nổi lên chống đế quốc Trung Quốc trước ông, hoặc Phùng Hưng, người đi sau ông. Có thể rằng Mai Hắc Đế quá đặc biệt. Ông có thể bị coi là đại biểu cho một cố gắng của nền văn minh Nam Phương theo Ấn Độ tấn công vào tiền đồn của văn minh Bắc Phương theo Trung Hoa và đã bị bác bỏ vì dù muốn dù không, xã hội Việt Nam lúc đó đã lựa chọn theo con đường phương bắc rồi.
Sử gia Lê Mạnh Hùng



Nguồn : group Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nghiên Cứu Lịch sử khác