Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những bức điện và mệnh lệnh làm nên lịch sử.


Thật sự khi viết về Đại tướng quả là rất khó. Bởi vì, báo chí trong nước cũng như nước ngoài đã dùng những từ ngữ hoa mĩ nhất để gọi, để tả và để nói về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Và trong một bài viết cũng không thể nói hết ''sự vĩ đại của một trong những con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam''. Vì vậy mình mong những điều mình góp nhặt được từ những bức điện, những mệnh lệnh của Đại tướng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chiến dịch kết thúc 21 năm đất nước chia cắt, sẽ cho các bạn 1 cái nhìn mới về Đại tướng, cái nhìn về sự mộc mạc và gần gũi.
Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam được xây dựng từ đó và trải qua 8 lần sửa chữa. "Khi họp Tổ, Phó tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn thường phát biểu trước gợi ý cho các thành viên đóng góp ý kiến, nhất là những vấn đề đánh giá đối phương, phương pháp tác chiến được điều chỉnh theo thực tiễn chiến trường", đại tá Nguyễn Giang Hà (Bùi Liên), nguyên cán bộ Cục tác chiến nhớ lại. Khi tình hình chiến trường miền Nam sôi động, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chủ trì các cuộc họp tổ. Sáng 13/3/1975, cuộc giao ban tổ đang diễn ra thì Cục Quân báo thông tin về, đối phương có thể bỏ Pleiku - Kon Tum để giữ đồng bằng ven biển miền Trung. Một bức điện khẩn lập tức được gửi cho tướng Văn Tiến Dũng đang ở Tây Nguyên: "1. Chiến dịch đang phát triển thuận lợi, Nam Bộ bắt đầu phối hợp tốt. 2. Đánh bại sư đoàn 23 tình hình sẽ phát triển hơn nữa, nhanh chóng bao vây sinh lực định trong vùng, nên tính tới khả năng chúng buộc phải rút lui chiến lược, bao vây Pleiku ngay, triệt tiếp tế... chuẩn bị tốt cả hai tình huống".
Điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các anh Ban chỉ huy mặt trận Sài Gòn ngày 1-4-1975. có ghi: ''...phải sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động, không chờ đợi tập trung lực lượng đông đủ mới làm ăn".[1]
Ngày 7/4/1975, từ Tổng hành dinh, mệnh lệnh: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng" của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được gửi đến cán bộ chiến sĩ toàn chiến trường. Nhiều đơn vị ở miền Bắc đã gấp rút hành quân vào miền Nam.
Ngày 26/3/1975 tại Tổng hành dinh, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp họp với Tư lệnh mặt trận Lê Trọng Tấn, bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng. So sánh tương quan lực lượng hai bên, tướng Lê Trọng Tấn đã chuẩn bị sẵn một phương án đánh chiếm Đà Nẵng trong 7 ngày, sau rút xuống còn 5 ngày.
Tuy nhiên, Đại tướng Tổng tư lệnh lại nghĩ khác, tình hình có thể diễn biến đột ngột, khả năng quân Việt Nam cộng hòa tháo chạy là rất có cơ sở. Nếu đánh kéo dài trong 5 ngày để địch co cụm được thì sẽ hỏng việc lớn. Vị tổng chỉ huy cho rằng 5 ngày là quá dài để có thể cho quân VNCH đủ thời gian tháo chạy về Sài Gòn và tử thủ ở đó, dẫn đến sau này khi đánh Sài Gòn nhất định chịu thương vong và khó khăn. Tướng Tấn một lần nữa lại bị đẩy vào thế khó khi buộc phải rút ngắn thời gian đánh chiếm xuống còn 3 ngày, và một lần nữa ông lại ''cãi'' vị chỉ huy của mình. Nói về thời điểm này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có viết trong hồi kí ''Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng'' rằng: ''Anh Tấn vẫn giữ ý kiến và trình bày: Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp. Tôi nói giọng có phần gay gắt: ''Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh: ''Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị 3 ngày. Nếu chuẩn bị 5 ngày, địch rút mất cả thì sao? Huế đã giải phóng rồi. Mặc dầu pháo binh và hải quân địch có thể bắn phá, cứ cho bộ đội hành quân theo đường số 1 tiến công thẳng vào Đà Nẵng. Từ phía nam cũng theo đường số 1 tiến công lên. Không họp đảng ủy, chỉ trao đổi bằng điện”.'' Sự tin tưởng và kiên quyết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được đền đáp xứng đáng. Bằng tài xoay xở và chỉ huy của Tướng Lê Trọng Tấn: dù ''cãi'' là thế nhưng rốt cuộc ông cùng với Quân đoàn 2 của mình vẫn đánh bật 100000 lính VNCH ra khỏi Đà Nẵng và giải phóng nó chỉ trong đúng 3 ngày. Sau giải phóng Đà Nẵng, ông đề nghị thành lập binh đoàn Duyên Hải gồm sư đoàn 3, quân đoàn 2 và quân đoàn 4, vừa tiến vừa đánh theo hướng duyên hải, trái ngược so với kế hoạch ban đầu là tiến quân qua Tây Nguyên để tấn công Sài Gòn. Cánh quân phía Đông là cánh quân duy nhất được nổ súng tấn công trước giờ G 12 tiếng. Trong hồi kí ''Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng'' Đại tướng Võ Nguyên Giáp có viết: '' Theo kế hoạch, 5h30 phút sáng 30/4/1975, các hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Riêng cánh quân phía Đông, anh Lê Trọng Tấn đề nghị nổ súng từ 18h ngày 29/4. Lí do là các lực lượng ta còn cách vùng ven từ 15 đến 20 km, phải vừa đánh địch vừa tiến quân, lại phải vượt sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nếu cùng nổ súng thì sẽ không đến kịp.'' Kế hoạch được thông qua nên cánh quân của ông dù cách xa nội thành Sài Gòn hơn các cánh quân khác nhưng lại tiến vào Sài Gòn đầu tiên và bắt sống toàn bộ nội các cuối cùng của chính quyền VNCH. Khi biết tin giải phóng thành công Sài Gòn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết ngay một bức điện vượt ra ngoài khuôn phép thông thường về quân sự: 18h30 phút. “Anh Tấn ơi! Làm ăn tốt quá! Phấn khởi quá! Chúc các anh rất khỏe và chuyển lời mừng chiến thắng của mình cho các tướng trong đó”. Ký tên: Văn”.
Vậy đấy, nếu không có chiến tranh thì có lẽ không ai biết đến cái tên Võ Nguyên Giáp , và có lẽ người thanh niên ấy mãi mãi chỉ là một giáo viên dạy sử. Trở lại thời điểm năm 1944, cuộc đấu tranh cách mạng đòi hỏi phải chuyển từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự, Bác Hồ đã quyết định phải tổ chức một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Bác hỏi: “Việc này chú Văn phụ trách, chú Văn có làm được không?” Ông đáp: “Có thể được”. Và chính thức từ giây phút đó, cái tên Võ Nguyên Giáp đã gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là tại sao Bác Hồ lại chọn ông, một người trí thức đảm nhiệm chức Tổng tư lệnh Quân đội mà không phải là những người học chuyên về quân sự? Nhà sử học Dương Trung Quốc đã có một cách lý giải riêng về sự lựa chọn này: “Cụ Hồ quan niệm làm chính trị là phải thay đổi nhận thức con người, cho nên mục tiêu chính trị cần phải được đặt lên hàng đầu, còn vũ khí chỉ là phương tiện. Tại sao khi thành lập đơn vị quân sự đầu tiên của Việt Nam, Bác gọi là “đội Tuyên truyền Giải phóng quân”? Câu nói của Bác khi giao nhiệm vụ cho tướng Giáp là cứ tuyên truyền rồi nhân dân sẽ tìm được vũ khí cho chúng ta. Tướng Giáp có đủ phẩm chất để thực hiện nhiệm vụ trên. Bởi ít nhất ông là một người được đào tạo hết sức chính quy trong bộ máy giáo dục và ông tiếp cận với những tri thức rất cơ bản để tạo nên một nền tảng văn hóa vững chắc. Ông học luật và lại là thầy giáo dạy sử. Mà thầy giáo trong xã hội cũ thì rất có uy tín trong việc tuyên truyền, tập hợp lực lượng”.
Theo lời kể của nhà sử học Dương Trung Quốc, thì có rất nhiều người đã hỏi Đại tướng là ông được đào tạo ở trường quân sự nào? Ông trả lời rằng trường học đầu tiên của ông là trường học trí thức. Võ Nguyên Giáp là người nghiên cứu rất nhiều về lịch sử nói chung, trong đó có lịch sử chiến tranh và một trong những nhân vật ông để tâm nghiên cứu nhiều nhất là Napoléon. Ông nghiên cứu Napoléon như một nhân vật huyền thoại của chiến tranh nhưng đồng thời cũng là mặt trái của chiến tranh. Nó giống như thứ vũ khí có thể tạo dựng nền hòa bình, sự tiến bộ nhưng cũng có thể gây ra những cuộc xung đột đẫm máu. Tất cả điều đó cho thấy đặc thù của Võ Nguyên Giáp là một vị tướng dùng binh bằng bản lĩnh trí tuệ. Trong những hồi ký, Đại tướng nhắc đến thói quen thường xuyên lục lại trong trí nhớ của mình những bài học thành công, thất bại của lịch sử mỗi khi ông đứng trước một khó khăn, thử thách. Trong mấy chục năm cuộc đời, ông đã chỉ huy nhiều trận đánh nhiều chiến dịch lớn. Thế giới đã ca tụng ông trong ánh hào quang của một vị tướng với tài chỉ huy và hoạch định chiến lược. Nhưng chiến thắng đôi khi đến từ một nơi sâu thẳm hơn. Đó là một trí tuệ mẫn tiệp và trái tim nhân ái. Năm 1945, sau ngày Nhật đảo chính Pháp, một số người Pháp đã đến với Việt Minh ở khu giải phóng. Họ đã tiếp xúc với “anh Văn” (tức đại tướng Võ Nguyên Giáp). Maurice Bernard, một giáo viên đã viết một bức thư dài gửi những người bạn Pháp ờ Hà Nội, trong đó có đoạn: "Không bao giờ chúng tôi quên được cái đêm đã hội tụ chúng tôi lại với ông Văn, người chỉ huy mà đến nay chúng tôi thấy là người có uy tín nhất, có kinh nghiệm rộng lớn nhất, đã nói với chúng tôi, bằng những câu giản dị và hùng hồn kiên quyết, những cố gắng lâu dài mà chưa đạt đích của Việt Minh, để bắt liên lạc được với người Pháp và làm cho người Pháp hiểu. Bằng tất cả trái tim, chúng tôi đáp lại lời kêu gọi của ông và chúng tôi muốn rằng toàn thể đồng bào người Pháp cùng chia sẻ tình cảm ấy của chúng tôi. Cho đến giờ những giọt nước mắt của Trung tướng Phạm Hồng Cư - nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn rưng rưng khi nhắc đến tình cảm trong con người đại tướng. Đối với ông, Đại tướng là một người thủ trưởng chỉ huy bằng tấm lòng của một con người nhân ái. Theo lời ông kể, chiến dịch Quảng Trị đã nổ ra khi Đại tướng đi chữa bệnh. 81 ngày đêm, mỗi ngày đêm lại có một đại đội hy sinh. Đó không phải là cách đánh mà đại tướng đã vạch ra. Cho đến bốn giờ sáng ngày 17/9/1972, một ngày sau khi quân ta rút lui khỏi thành cổ, Đại tướng còn điện trực tuyến hỏi tác chiến mặt trận: “Tôi có thông tin trong thành cổ còn sót lại chín chiến sĩ do ở hầm xa nhau chưa nhận được lệnh rút, còn đang chiến đấu. Cho thẩm tra ngay!” Một Đại tướng đặt sinh mệnh từng con người lên trên cuộc chiến. Đó không đơn thuần là quân sự, là chiến tranh. Đó là một khát khao dài rộng và sâu sắc hơn một chiến thắng, dù chiến thắng đó có vĩ đại đến bao nhiêu. Hình như trong con người ông, nền tảng của một trí thức yêu nước và lý tưởng cách mạng vì mỗi con người Việt Nam luôn luôn là mục đích cao nhất. Chiến tranh, trong tất cả sự khốc liệt của nói chỉ có ý nghĩa khi mỗi sự hy sinh đều hướng đến lý tưởng vì cuộc sống hạnh phúc cho con người. Vì thế, một cuộc chiến không quan trọng ở chiến thắng, mà quan trọng ở cách chiến thắng và mục đích của chiến thắng. Chỉ một người dám hy sinh cho lý tưởng mới hiểu được những người lính đang ngã xuống đáng quý biết bao để mỗi trận chiến là mỗi bậc thang vươn đến xã hội dân chủ và công bằng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã viết: “Đồng chí Võ Nguyên Giáp luôn luôn ý thức được rất sâu sắc rằng: người chỉ huy các cấp nói chung, nhất là Tổng tư lệnh phải có trách nhiệm với từng vết thương và từng giọt máu của mỗi người lính. Tôi biết rõ đồng chí Tổng tư lệnh nhiều đêm thao thức, nước mắt ướt đầm, vì được tin một chiến dịch nào đó máu chiến sĩ đổ quá nhiều, mà chiến thắng thì chưa tương xứng.”[2] Nếu có hỏi tôi nhận xét thế nào về Đại tướng thì tôi sẽ trả lời: '' Một trí tuệ vĩ đại, một nhân cách giản dị...''

Ảnh: Đại tướng chăm sóc cây cối trong vườn nhà.

[1]: Trích điện văn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các anh Ban chỉ huy mặt trận Sài Gòn ngày 1-4-1975.

[2]: Đoạn viết có sử dung tài liệu của đồng nghiệp Lê Tùng, người may mắn được phỏng vấn trực tiếp Đại tướng.

Bài viết sử dụng tư liệu của phần 4 từ sesies Những vị tướng của QĐNDVN, phần 4 - ''Lê Trọng Tấn và con đường trở thành Zhukov của Việt Nam.



Nguồn : Page Tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam (Viet Nam War)

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nhân Vật Lịch Sử khác