Đế quốc Oman


Đế quốc Oman

Đế quốc Oman (The Omani Empire) - là một đế chế hàng hải hùng mạnh ở Ấn Độ Dương từ thế kỉ 17 đến 19. Vào thời đỉnh cao của mình, ảnh hưởng của đế chế Oman bao trùm phía Nam bán đảo Arab, kéo dài đến tận Nam Á, kéo dài dọc bờ biển Đông Phi và nắm trọn đường mậu dịch trên biển ở Tây Ấn Độ Dương. Trong thế giới Hồi giáo, Đế quốc Oman được coi là có công lớn trong việc mở rộng ảnh hưởng của Hồi giáo đến miền đông châu Phi và trên Ấn Độ Dương.

Cho đến tận cuối thế kỉ 15 khi Vasco da Gama đến bán đảo Arab, Oman vẫn là vùng đất bị chia sẻ giữa các bộ lạc Arab ít khi thống nhất. Đất nước bị dãy Al Hajar chia làm hai khu vực riêng biệt: phần nội lục trong sa mạc, gồm các bộ lạc du mục kiểm soát, gọi là Oman (đất nước Oman chon tên gọi theo vùng đất này). Phần còn lại gọi là Muscat, là vùng duyên hải kiểm soát bởi các thương nhân với nhiều hải cảng lớn từ xa xưa. Trung tâm của vùng duyên hải này là thành phố cảng Muscat, môt cảng lớn và quan trọng từ rất lâu trên Ấn Độ Dương, nay là thủ đô của Oman.

Sang thế kỉ 16, người Bồ Đào Nha đã chiếm đóng [Muscat]( trong suốt 143 năm từ 1507 đến 1650. Nhưng họ không đủ lực lượng để bảo vệ thương cảng giàu có này. Vào năm 1552, hạm đội Bồ Đào Nha đã bị hạm đội của Ottoman đánh tan tành tại Muscat, trong ''chiến dịch viễn chinh Hormuz'' của quân Ottoman, mà mục đích cuối cùng là mở đường cho người Thổ đến Ấn Độ và cảng Basra (Iraq). Tuy nhiên quân Ottoman đã không chiếm đóng Muscat, tạo điều kiện cho người Bồ Đào Nha trở lại thành phố năm 1588.

Người Bồ Đào Nha vẫn chiếm thành phố Muscat đến tận năm 1741. Tuy nhiên trước thời gian đó, các bộ lạc Oman đã đánh đuổi người Bồ Đào Nha khỏi phần lớn lãnh thổ của mình. Từ năm 1690, quân Oman do Saif bin Sultan chỉ huy đã tấn công lên các lãnh thổ của Bồ Đào Nha trên bờ biển Đông Phi. Với sự hỗ trợ của người Somali, quân Oman chiếm được thành phố Mogadishu, được ví là ''viên ngọc trắng Ấn Độ Dương''. Năm 1698, Oman hạ pháo đài Jesus, chiếm thành phố cảng Mombasa, nơi buôn bán ngà voi và nô lệ lớn nhất bấy giờ. Họ tiếp tục chiếm cảng Daar es Salaam, thủ đô của Tanzania sau này. Sang thế kỉ 17, người Oman đã chiếm được hầu hết lãnh thổ Bồ Đào Nha ở Đông Phi, kéo dài từ Somali đến tận Mozambique, Madagascar,...Nhưng tài sản lớn và quan trọng nhất mà người Oman có được là đảo Zanzibar, trung tâm kiểm soát tuyến đường mậu dịch trên biển Tây Ấn Độ Dương, nơi buôn bán gia vị và nô lệ giàu có không nơi nào sánh được.

Trên đất liền, đế quốc Oman sau nhiều thế kỉ chịu chèn ép của người Ba Tư đã phản đòn vào thế kỉ 18, chiếm được vùng biển ven vịnh Ba Tư và mở rộng nó đến cảng Gwadar của Pakistan ngày nay. Họ cũng nhiều lần tấn công miền Tây Ấn Độ, cướp phá Goa mà Mumbai. Song song các cuộc mở rộng này là các đợt di cư lớn của người Oman, đưa 2 triệu người Oman và nô lệ châu Phi đến các vùng đất mới này.

Với việc kiểm soát các hải cảng quan trọng, đặc biệt là Zanzibar, đế quốc Oman trở nên giàu có vào thế kỉ 18-19. Họ nắm trọn đường buôn bán trên biển Tây Ấn Độ Dương, nắm độc quyền mua bán nô lệ và hương liệu từ Đông Phi sang Ấn Độ. Họ đánh sập ảnh hưởng của Bồ Đào Nha, ganh đua ảnh hưởng với người Anh (dù sau này liên minh) và khóa chặt đế chế Ottoman trong Biển Đỏ. Chỉ riêng việc kiểm soát Zanzibar đã mang lại cho Oman số tài sản một năm gấp đôi của cả vương quốc trong những năm trước đó. Với tầm quan trọng của Zanzibar, sau này năm 1840 Oman đã dời đô của mình từ Muscat đến hòn đảo này

Nhưng Sultan bin Saif không phụ thuộc hoàn toàn vào buôn bán trên biển. Ông đã tiến hành nhiều cải cách trên vương quốc mình. Ông nhờ người phương Tây xây hệ thống thủy lợi đưa nước vào nội địa khô cằn của Oman, đặt nền móng phát triển nông nghiệp ở vùng này. Cùng với đó, ông khuyến khích người dân nội địa Oman di cư đến vùng duyên hải Muscat để tăng cường thống nhất đất nước, những điều hiếm có trước đây. Dưới thời Saif bin Sultan, bên cạnh ngoại thương, cây chà là mang lại cho Oman nguồn lợi lớn.

Đến thời Sultan bin Ahmad, Oman thiết lập liên minh mạnh mẽ với Đế Quốc Anh. Người Anh giúp Oman củng cố thêm hạm đội vốn đã mạnh của mình, và cũng giúp Oman chống lại người Ba Tư. Ông cho phép [Công ty Đông Ấn Anh]( thành lập trạm giao dịch đầu tiên ở Vịnh Ba Tư, và một lãnh sự Anh đã được gửi đến Muscat. Ngược lại, Oman đã giúp người Anh đánh bại quân của Napoléon Bonaparte, gạt bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của Pháp và củng cố chắc chắn ảnh hưởng của Anh ở Ấn Độ.

Người Anh đã thuyết phục Sultan của Oman bãi bỏ chế độ nô lệ đã bị tuyên bố là bất hợp pháp ở Anh vào năm 1772. Điều này gây tranh cãi ở Oman, do buôn bán nô lệ là nguồn lợi vô cùng lớn cho Oman lúc đó. Cuối cùng, dù Sultan bin Ahmad đồng ý bãi bỏ nô lệ, nhưng người đứng đầu ở Zanzibar, vốn kiểm soát các lãnh thổ châu Phi của Oman, bác bỏ điều này. Zanzibar chỉ bãi bỏ nô lệ vào năm 1896, sau khi thất bại trong cuộc chiến 45 phút với người Anh.

Vào ngày 21 tháng 9 năm 1833, một hiệp ước lịch sử về ngoại giao và thương mại đã được Oman ký kết với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ . Đó là hiệp ước thương mại thứ hai được xây dựng bởi Hoa Kỳ và một quốc gia Ả Rập (Morocco là hiệp ước đầu tiên vào năm 1820). Cả Hoa Kỳ và Oman đều được hưởng lợi, vì Hoa Kỳ - không giống như Anh và Pháp, không có tham vọng lãnh thổ ở Trung Đông và chỉ quan tâm đến thương mại. Vào ngày 13 tháng 4 năm 1840, con tàu Al-Sultanah đã cập cảng New York, biến nó thành sứ giả Ả Rập đầu tiên từng đến thăm Tân Thế Giới. Đội thủy thủ gồm năm mươi sáu thủy thủ Ả Rập đã gây nên phấn khích trong số 300.000 dân New York. Al-Sultanah mang theo ngà voi, thảm Ba Tư, gia vị, cà phê và chà là, cũng như những món quà xa hoa cho Tổng thống Martin Van Buren . Chuyến thăm của Al-Sultanah kéo dài gần bốn tháng, trong đó thời gian đó, sứ giả Ahmad bin Na'aman Al Kaabi , sứ giả Ả Rập đầu tiên đến thăm Hoa Kỳ (người ta vẫn có thể nhìn thấy chân dung của sứ giả Oman trong Bảo tàng Peabody ở Massachusetts) và các sĩ quan của ông đã được các chức sắc Hoa Kỳ đón tiếp.

Nhưng cuối cùng, như nhiều đế chế khác, đế chế Oman suy tàn do tranh chấp kế vị. Vua Said bin Sultan qua đời, Hai con trai ông là Thuwaini bin Said và Majid bin Said tranh giành nhau. Hai phe đánh nhau khiến nguy cơ đế chế sụp đổ, gây lo ngại cho người Anh, vốn đang dựa vào Oman để kiềm chế Ottoman. Cuối cùng, nhờ sự trung gian của người Anh, đế chế Oman bị phân chia. Thuwaini bin Said kiểm soát đất liền Oman trên bán đảo Arab cùng các lãnh thổ ven vịnh Ba Tư. Còn Majid bin Said kiểm soát Zanzibar và các lãnh thổ châu Phi.

Việc phân chia này khiến cả 2 vương quốc suy yếu. Việc chia cắt với Zanzibar khiến Vương quốc Muscat và Oman mất đi nguồn tài chính khổng lồ. Để bù đắp điều này, người Anh yêu cầu Zanzibar mỗi năm trả 40.000 đồng bạc cho Muscat và Oman. Tuy nhiên những năm sau đó việc trả tiền này bị trì hoãn và bãi bỏ. Các lãnh thổ trên vịnh Ba Tư cũng dần bị mất ảnh hưởng, phải trao trả hoặc bán lại. Nhưng cảng Gwadar vẫn nằm trong tay Oman, trở thành lãnh thổ hải ngoại. Năm 1958, Oman bán lại [cảng Gwadar]( cho Pakistan với giá 3,2 triệu USD, bằng nửa giá Nga bán Alaska cho Mỹ.

Ngoài ra, sau khi phát hiện dầu mỏ ở Oman, các bộ lạc trong nội địa Oman đã nổ ra chiến tranh giành dầu mỏ với chính quyền ở Muscat. Người Anh phải giúp Muscat đánh bại quân nổi dậy. Sau nhiều lần nổi dậy liên tục, đất nước được thống nhất dưới sự kiểm soát của Muscat, nhưng sau đó tái phân quyền, theo đó vùng nội địa Oman được tự trị.

Còn với Zanzibar, vương quốc mất đi nhiều lãnh thổ châu Phi khi thực dân phương Tây bành trướng. Somali và Mogadishu mất cho Ý, Kenya và Mombasa nhượng cho Anh, Daar es Salaam mất cho Đức và suýt nữa Zanzibar đã bị Đức xâm lược. Zanzibar sau đó rơi vào quyền bảo hộ của Anh, đến năm 1963 thì được độc lập. Nhưng năm 1964, sau một cuộc cách mạng đẫm máu, những người gốc Phi đã lật đổ sự cai trị của người Arab, sau đó sáp nhập đất nước vào Tanzania như ngày nay, chấm dứt hơn 10 thế kỷ thống trị Zanzibar của người Arab



Nguồn : group Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nghiên Cứu Lịch sử khác