Huyền Trân công chúa với công lao mở rộng bờ cỏi nước Nam


Huyền Trân công chúa, một vị công chúa thời nhà Trần có công lao to lớn đối với đất nước ta về mở rộng bờ cỏi lãnh thổ . Công chúa là con gái của vua Trần Nhân Tông và bà Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu- trưởng nữ của hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Năm 1287 Khâm Từ hoàng hậu hạ sinh công chúa Huyền Trân.
Tháng 2 năm 1301 ( Tân Sửu) Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời sẽ du ngoạn đến Chiêm Thành. Đến vương quốc Chiêm Thành Thái thượng hoàng được quốc vương Chế Mân tiếp đãi nồng hậu và nhiệt tình, ông ở lại cung điện Chiêm Thành 9 tháng. Trước khi ra về Thái thượng hoàng đã hứa gả cô con gái Huyền Trân cho quốc vương Chiêm Thành để mở rộng mối bang giao giữa hai nước.
Khi về triều nhiều quan lại nhà Trần phản đối việc hôn lễ này chỉ có Văn Túc vương Trần Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành. Năm 1306 (Bính Ngọ) thời Hưng Long thứ 14 vào tháng 6 Chế Mân đã dùng 2 châu thuộc lãnh thổ Chiêm Thành là châu Ô và Châu Lý làm hồi môn dâng lên vua Trần Anh Tông để cưới công chúa Huyền Trân. Vì sự hòa hiếu bang giao giữa hai nước Huyền Trân đã đồng ý làm dâu đất khách làm vợ Chế Mân. Về làm dâu đất Chiêm Thành công chúa được phong làm Vương hậu thứ hai với phong hiệu là Paramecvari.
Hôn nhân chưa đầy một năm thì vào tháng 5 năm 1307 ( Đinh Mùi) quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân đã qua đời ở tuổi 50.
Quốc vương Chế Mân chết thế tử Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang Đại Việt dâng voi trắng để báo tang. Biết được Chế Mân chết vua Trần đã sai Khắc Chung qua Chiêm Thành để viếng tang và mục đích là cứu công chúa Huyền Trân
Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: “Theo tục lệ Chiêm Thành, hễ vua mất thì hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, bèn sai bọn Khắc Chung mượn cớ sang viếng tang, rồi nói, nếu hỏa táng công chúa trước thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng trước ra bờ biển chiêu hồn ở chốn ven trời, đón linh hồn (Chế Mân) cùng về rồi hãy lên giàn hỏa thiêu. Người Chiêm nghe theo. (Ra biển), Khắc Chung dùng thuyền nhẹ, cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô”.
Trong cuộc hành trình trở về công chúa còn đi cùng Thế tử Chế Đa Da, làm cho nhiều người nghĩ rằng thế tử là con của công chúa Huyền Trân.Theo dã sử và thần tích tại đền thờ của bà, sau khi bà trở về Thăng Long thì theo di mệnh của Thái Thượng hoàng, công chúa xuất gia ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh). Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng .
Cuối năm 1311 ( Tân Hợi) , Hương Tràng cùng một thị nữ đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành, thời gian sau am tranh trở thành điện Phật chùa Nộm Sơn còn gọi là Quảng Nghiêm Tự.
Ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340) Hương Tràng mất người dân sinh sống quanh vùng tiếc thương vô cùng và tôn bà là Thần Mẫu và lập đền thờ cạnh chùa Nộm Sơn. Các triều đại sau đều sắc phong công chúa Huyền Trân là thần hộ quốc. Thời nhà Nguyễn ban chiếu ghi nhận công lao của công chúa Huyền Trân "trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng", nâng bậc tăng là "Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần"



Nguồn : group Tìm hiểu về lịch sử Việt Nam (The history of Vietnam)

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nhân Vật Lịch Sử khác