Lịch sử Gò Công - Tiền Giang , Ảnh xưa Tỉnh Gò Công ngày xưa


Lịch Sử Gò công

:

Gò Công là tỉnh cũ ở miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Tỉnh này được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1900, tồn tại vào thời Pháp thuộc và bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa giải thể vào cuối năm 1956.
Tuy nhiên, sau đó tỉnh Gò Công lại được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tái lập vào năm 1963, tiếp tục tồn tại và bị mất tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh từ tháng 2 năm 1976 cho đến nay.

GÒ CÔNG THỜI NHÀ NGUYỄN ĐỘC LẬP



Dưới thời nhà Nguyễn độc lập, vào năm 1820, toàn bộ vùng đất Gò Công ngày nay ban đầu thuộc tổng Hòa Bình, huyện Kiến Hòa, trấn Định Tường. Sau này, lại tách vùng đất này ra khỏi trấn Định Tường để thành lập huyện Tân Hòa thuộc phủ Hòa Thạnh (lập năm 1841), tỉnh Gia Định. Huyện Tân Hòa khi đó bao gồm 2 tổng trực thuộc: Hòa Đồng và Hòa Lạc.

Năm 1841, dưới triều vua Thiệu Trị, địa bàn huyện Tân Hòa lại được chia thành 4 tổng mới: Hòa Đồng Thượng, Hòa Đồng Hạ, Hòa Lạc Thượng và Hòa Lạc Hạ. Đến năm 1851, phủ Hòa Thạnh bị giải thể và nhập vào phủ Tân An. Huyện Tân Hòa khi đó thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định.

Gò Công Giai Đoạn 1862-1900



Với Hòa ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Biên Hòa và Định Tường) cho thực dân Pháp làm thuộc địa. Ban đầu, Pháp vẫn giữ nguyên cách phân ranh hành chính của tỉnh Gia Định như cũ, chỉ thay đổi quan lại bằng người Pháp để thi hành chính sách trực trị và đàn áp. Năm 1862, huyện Tân Hòa có lỵ sở đặt tại Gò Công, bao gồm 4 tổng trực thuộc: Hòa Đồng Thượng (7 thôn), Hòa Đồng Hạ (10 thôn), Hòa Lạc Thượng (8 thôn), Hòa Lạc Hạ (8 thôn).

Ngày 9 tháng 11 năm 1864, thực dân Pháp lại thành lập hạt Thanh tra Tân Hòa trên địa bàn huyện Tân Hòa thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định cũ. Trụ sở hạt Thanh tra Tân Hòa đặt tại Gò Công. Lúc đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở.

Ngày 16 tháng 2 năm 1867, toàn bộ cù lao Lợi Quan vốn trước đó thuộc tổng Hòa Qưới, hạt Thanh tra Kiến Hòa (sau đổi tên thành hạt Thanh tra Chợ Gạo) được giao về cho tổng Hòa Đồng Hạ thuộc hạt Thanh tra Tân Hòa quản lý. Cù lao Lợi Quan trước đó gồm 4 thôn: Tân Phong, Từ Linh (tên cũ là thôn Miễu Ông), Hòa Thới và Phú Thạnh Đông. Cũng nhân sự kiện này, ba thôn Tân Phong, Từ Linh và Hòa Thới được nhập lại thành một thôn mới lấy tên là thôn Tân Thới. Từ đó, địa phận cù lao Lợi Quan chỉ còn hai thôn (sau này là làng) là Tân Thới và Phú Thạnh Đông.

Năm 1867, chính quyền thực dân Pháp chia 3 tỉnh cũ thời nhà Nguyễn độc lập là Gia Định, Biên Hòa và Định Tường thành 13 hạt thanh tra (inspection) do các viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ (inspecteur des affaires indigeânes) đứng đầu, nhưng tạm thời vẫn giữ cơ cấu phủ huyện cũ. Ngày 16 tháng 8 năm 1867, hạt Thanh tra Gò Công được thành lập do đổi tên từ hạt Thanh tra Tân Hòa trước đó, là một trong 24 hạt Thanh tra toàn xứ Nam Kỳ thuộc Pháp lúc bấy giờ, gồm có 4 tổng, 39 thôn: tổng Hòa Đồng Hạ (11 thôn); tổng Hòa Đồng Thượng (7 thôn); tổng Hòa Lạc Hạ (12 thôn); tổng Hòa Lạc Thượng (9 thôn). Hạt Thanh tra Gò Công lúc bấy giờ thuộc tỉnh Sài Gòn.

Ngày 5 tháng 1 năm 1876, các thôn được gọi là làng, đồng thời Gò Công trở thành một hạt tham biện (arrondissement) thuộc khu vực (circonscription) Mỹ Tho do thực dân Pháp đặt ra. Năm 1882, hạt tham biện (còn gọi là Tiểu khu hành chính, trị sở được dân gian quen gọi là tòa Bố) Gò Công gồm 4 tổng là Hòa Đồng Thượng, Hòa Đồng Hạ, Hòa Lạc Thượng, Hòa Lạc Hạ.

Như vậy, toàn bộ địa bàn hạt Gò Công lúc bấy giờ chính là huyện Tân Hòa thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định dưới thời nhà Nguyễn độc lập. Trước đây, địa danh "Gò Công" chỉ là tên gọi nơi đặt lỵ sở huyện Tân Hòa.

Giai Đoạn 1900-1954

Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Gò Công trở thành tỉnh Gò Công, với số tổng và số làng không đổi. Tỉnh lỵ Gò Công đặt tại làng Thành phố, vốn là hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi nhập lại.

Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, Gò Công trở thành quận thuộc tỉnh Mỹ Tho. Sau đó lại tái lập tỉnh Gò Công với 5 tổng, thêm tổng Hòa Đồng Trung, số làng cũng thay đổi.

Sau khi chính quyền địch do tên Tỉnh trưởng Trần Hưng Ký bị cách mạng lật đổ trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ bỏ cấp tổng, còn làng thì thống nhất gọi là xã. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã

Năm 1946 Gò Công là một trong 21 tỉnh của Nam Bộ. Năm 1951 Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ ra Quyết định sáp nhập 3 tỉnh: Mỹ Tho, Tân An, Gò Công thành một tỉnh có tên là tỉnh Mỹ Tho. Sau năm 1954 lại trả về 3 tỉnh như cũ, trong đó có tỉnh Gò Công.

Giai Đoạn 1954-1976

Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Gò Công trở thành tỉnh Gò Công, với số tổng và số làng không đổi. Tỉnh lỵ Gò Công đặt tại làng Thành phố, vốn là hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi nhập lại.

Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, Gò Công trở thành quận thuộc tỉnh Mỹ Tho. Sau đó lại tái lập tỉnh Gò Công với 5 tổng, thêm tổng Hòa Đồng Trung, số làng cũng thay đổi.

Sau khi chính quyền địch do tên Tỉnh trưởng Trần Hưng Ký bị cách mạng lật đổ trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ bỏ cấp tổng, còn làng thì thống nhất gọi là xã. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã

Năm 1946 Gò Công là một trong 21 tỉnh của Nam Bộ. Năm 1951 Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ ra Quyết định sáp nhập 3 tỉnh: Mỹ Tho, Tân An, Gò Công thành một tỉnh có tên là tỉnh Mỹ Tho. Sau năm 1954 lại trả về 3 tỉnh như cũ, trong đó có tỉnh Gò Công.

Giai đoạn 1954-1976[sửa | sửa mã nguồn]
Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]
Dân số tỉnh Gò Công 1967[1]
Quận Dân số
Hòa Bình 23.286
Hòa Đồng 40.485
Hòa Lạc 56.176
Hòa Tân 47.817
Tổng số 167.764
Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Gò Công như thời Pháp thuộc.

Ngày 2 tháng 4 năm 1955 chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho lập 2 quận ở tỉnh Gò Công:

Quận Châu Thành có 2 tổng: tổng Hòa Lạc Thượng 7 làng, tổng Hòa Lạc Hạ 10 làng. Quận lỵ: làng Thành phố;
Quận Hòa Đồng có 3 tổng: tổng Hòa Đồng Hạ 8 làng, tổng Hòa Đồng Trung 9 làng, tổng Hòa Đồng Thượng 9 làng. Quận lỵ: làng Đồng Sơn.
Đầu năm 1956, tỉnh Gò Công có diện tích là 584 km², dân số là 135.330 người. Riêng ở tỉnh lỵ Gò Công (tức địa bàn làng Thành phố), dân số là 7.570 người.

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ban hành Sắc lệnh 143-NV theo đó sáp nhập tỉnh Gò Công vào tỉnh Định Tường mới thành lập trên phần đất tỉnh Mỹ Tho trước đó. Khi đó quận Châu Thành đổi tên thành quận Gò Công thuộc tỉnh Định Tường. Cũng sau năm 1956, các làng gọi là xã; làng Thành phố đổi tên thành xã Long Thuận và là nơi đặt quận lỵ của quận Gò Công.

Ngày 26 tháng 12 năm 1957, xóa bỏ cù lao Tàu trong địa hạt xã Tân Thới, tổng Hòa Đồng Hạ, quận Gò Công, tỉnh Định Tường và đặt cù lao này vào địa hạt xã Long Phụng, tổng Hòa Qưới, quận Bình Đại, tỉnh Kiến Hòa (trước đó là tỉnh Bến Tre).

Ngày 20 tháng 12 năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập tỉnh Gò Công, tách từ tỉnh Định Tường. Tỉnh lỵ có tên là "Gò Công", về mặt hành chánh thuộc xã Long Thuận, quận Châu Thành (quận Gò Công cũ). Từ năm 1965, tỉnh lỵ Gò Công thuộc xã Long Thuận, quận Hòa Lạc.

Gò Công là một tỉnh nhỏ, phía bắc với giáp hai tỉnh Long An và Gia Định, phía đông là biển Đông, phía nam giáp tỉnh Kiến Hòa, phía tây giáp tỉnh Định Tường. Ranh giới phía nam của Gò Công là sông Cửa Đại, ranh giới phía bắc là sông Vàm Cỏ Tây, còn ranh giới phía đông bắc là sông Nhà Bè đổ ra cửa Soài Rạp.

Khi mới tái lập tỉnh Gò Công gồm 2 quận: Châu Thành (đổi tên từ quận Gò Công) và Hòa Đồng với 4 tổng, 31 xã. Ngày 31 tháng 12 năm 1963, dời quận lỵ quận Hòa Đồng từ xã Đồng Sơn đến xã Vĩnh Bình.

Ngày 6 tháng 4 năm 1965, chính quyền Việt Nam Cộng hòa sắp xếp hành chính, chia lại tỉnh Gò Công thành các quận như sau:

Chia quận Châu Thành thành 2 quận: Hòa Tân và Hòa Lạc

Quận Hòa Tân: quận lỵ tại xã Tân Niên Tây với 9 xã

Quận Hòa Lạc: quận lỵ tại xã Tăng Hòa với 9 xã

Chia quận Hòa Đồng thành 2 quận: Hòa Đồng và Hòa Bình

Quận Hòa Đồng: quận lỵ tại xã Vĩnh Bình với 8 xã;

Quận Hòa Bình: quận lỵ tại xã Bình Luông Đông với 5 xã.

Như vậy tỉnh Gò Công cho đến năm 1975 có 4 quận: Hòa Tân, Hòa Lạc, Hòa Đồng, Hòa Bình.
Năm 1970, tỉnh Gò Công có diện tích 570 km², dân số là 191.291 người. Riêng ở tỉnh lỵ Gò Công (tức địa bàn xã Long Thuận), dân số là 36.248 người.

(Tài liệu của @Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)

Tỉnh Gò Công 1920s- Dinh Chánh Tham Biện (Tỉnh trưởng) tỉnh Gò Công. Dinh Chánh Tham Biện tỉnh Gò Công (*) Năm 1867, Pháp thâu trọn Nam Kỳ, Pháp đổi sáu tỉnh thành 27 vùng Tham biện. Huyện Tân Hoà của cựu trào được đổi thành Tham Biện Gò Công (Inspection de Gò Công) và do một viên sĩ quan Hải quân cấp bực Trung uý làm Chánh Tham Biện. Sau Tham biện Gò Công đổi thành Hạt Gò Công (Arrondissement de Gò Công) và đến ngày 20 – 12 – 1899 bằng một nghị định của Soái phủ Sài Gòn bỏ các Hạt và thành lập tỉnh. Tỉnh Gò Công (Province de Gò Công) chính thức lập kể từ ngày nầy và là 1 trong 21 tỉnh Nam Kỳ kể từ đó. Trở lại dù sau nầy viên chức đứng đầu Tỉnh Gò Công là Tỉnh Trưởng (Chef de Province) nhưng dân Gò Công quen gọi là Chánh Tham Biện (Administrateur) và chỗ ở của viên quan nầy gọi là Dinh Chánh Tham Biện hay Dinh Ông Chánh. Dinh được Tây cất kiên cố bằng gạch ngói chở từ chính quốc sang. Đây là dinh thự đồ sộ đầu tiên ở Nam Kỳ (trừ Sài Gòn) bắt đầu xây năm 1885 và xong vài năm sau. Sở dĩ lấy mốc 1885 làm năm xây cất dinh thự nầy là do tôi, người viết những dòng nầy, năm 1985 có dịch cho UB Huyện Gò Công Đông một văn bản do Công Hoà Pháp gởi cho Nhà Chức trách Tỉnh Gò Công cũ, yêu cầu ngưng sử dụng dinh thự dành cho viên Chủ Tỉnh vì dinh thự nầy khi xây cất Sở Tạo Tác thuộc Bộ Hải Quân Pháp dự trù sử dụng 1 trăm năm. Đến năm 1985 là đúng hạn nên báo cho Nhà Chức trách Gò Công đừng sử dụng, nguy hiểm. Gò Công có nhiều dinh thự và ngôi nhà Tây cất nhưng duy nhất chỉ có Dinh Chánh Tham Biện nầy Tây báo cho ta mà thôi. Lúc đó tôi dịch vì tôi là Giáo viên Tổ trưởng Ngoại ngữ của trường Trung học Trương Định, Ủy Ban nhờ trường xem coi văn thư chữ Pháp do Tỉnh chuyển xuống nói gì, Trường giao cho tôi và tôi dịch, xong giao cho Chánh văn phòng Ùy Ban lúc đó là ông Nguyễn Văn Rí. Và Ủy Ban cho ngưng sử dụng dinh thự nầy. Đi các tỉnh nào thuộc Nam Kỳ cũ ta đều thấy hình dáng kiểu dinh thự nầy. Nhưng Dinh Chánh Tham Biệm Gò Công là to và đẹp hơn hết. Hiện Dinh xưa vẫn còn lại, nét phai tàn lộ rõ vẻ ngoài. Chứng tích còn đó nhưng thời gian sẽ đưa Dinh vào dĩ vãng. Hình 1 : Dinh Tỉnh trưởng nay (2007) vẫn còn, chờ đợi trùng tu Thêm nữa khung viên của Dinh Chánh Tham Biện thật rộng lớn. Đông giáp Sân Vận Động Gò Công và Toà án. Nam giáp đường Thái Lập Thành nay là đường Nguyễn Văn Côn. Tây giáp đường Trần Hưng Đạo và Bắc giáp đường Lộ Dương nay là đường Nguyễn Trọng Dân Trong khung viên toà nhà Chánh tham biện xưa dọc theo lộ phía Tây (đường Trần Hưng Đạo) có Toà Hành Chánh, nơi làm việc của Chánh Tham Biện và các ban ngành. Tên của toà nầy cho tới năm 1945 kêu bằng tiếng Tây như từ 1868 gọi là Inspection de Go Cong nhưng người dân quen với cách cai trị của Triều đình cũ gọi là Toà Bố _________________________________ (*) Trích trong loạt bài "Gò Công ngày cũ - CÁC CÔNG THỰ VÀ CÔNG ÍCH PHÍA BẮC KINH SALICETTI" của tác giả Phan Thanh Sắc
 Tỉnh Gò Công 1920s - Trường Nữ tỉnh Gò Công thập niên 1920
Tỉnh Gò Công 1920s - Trường Nữ tỉnh Gò Công thập niên 1920
 Tỉnh Gò Công 1920s - Một ông cai tổng (chánh tổng) với bàn tay để móng dài.    Tỉnh chia thành tổng (canton), đứng đầu là Chánh tổng (Chef de canton), còn gọi là Cai tổng. Tổng chia thành làng (village), đứng đầu là Hội đồng Hương chức (còn gọi là Ban Hội tề) do Hương cả phụ trách chung.
Tỉnh Gò Công 1920s - Một ông cai tổng (chánh tổng) với bàn tay để móng dài. Tỉnh chia thành tổng (canton), đứng đầu là Chánh tổng (Chef de canton), còn gọi là Cai tổng. Tổng chia thành làng (village), đứng đầu là Hội đồng Hương chức (còn gọi là Ban Hội tề) do Hương cả phụ trách chung.
 Chợ Dinh, ngôi chợ của làng Đồng Sơn, tỉnh Gò Công.
Chợ Dinh, ngôi chợ của làng Đồng Sơn, tỉnh Gò Công.
 Maison communal - Nhà việc (cơ quan hành chánh) ở Chợ Dinh, làng Đồng Sơn - Tỉnh Gò Công.
Maison communal - Nhà việc (cơ quan hành chánh) ở Chợ Dinh, làng Đồng Sơn - Tỉnh Gò Công.
 Chùa Phúc Kiến
Chùa Phúc Kiến
 Tỉnh Gò Công - không biết ở đâu
Tỉnh Gò Công - không biết ở đâu
 Tỉnh Gò Công - Cầu Quan bên trái là tu viện Téresa bên phải là ty cảnh sát ( trước 75 )
Tỉnh Gò Công - Cầu Quan bên trái là tu viện Téresa bên phải là ty cảnh sát ( trước 75 )
 Tỉnh Gò Công - không biết ở đâu
Tỉnh Gò Công - không biết ở đâu


Le
Le Monde illustré 16 mai 1863 - Tuần báo Le Monde illustré của Pháp số ra ngày 16/5/1863 gallica.bnf : Le Monde illustré Éditeur : [s.n.] (Paris) Date d'édition : 1863-05-16 Correspondance de Cochinchine. L'attention du pays tout entier a été vivement excitée par la prise de Go-Cong. Cette prompte répression d'une tentative de résistance à l'exécution des traités conclus avec l'empereur d'Annam a éteint pour longtemps, il faut l'espérer, toute idée hostile chez les indigènes. Nos braves soldats et nos alliés les Espagnols ont montré une fois de plus que malgré leur petit nombre on peut tout attendre de leur intrépidité et de leur valeur. Nous publions aujourd'hui une série de dessins dont les croquis nous sont envoyés par M. Roussin, secrétaire du contre-amiral Jaurès, et qui offrent un grand intérêt. Nous complétons ici, par quelques explications indispensables, les renseignements que donnent les gravures, d'après les documents les plus récents. L'un de ces dessins, n° 1 représente un panorama de la ville de Go-Cong. C'est une petite province comprise au sud de nos possessions entre le Cambodje et la rivière de Soirap, et bordée par la mer. La faiblesse numérique de notre garnison de Cochinchine n'ayant pas permis depuis un an d'occuper ce point, qui nous était concédé, un agitateur, nommé Quandine, en avait profité pour y établir le centre de la résistance qu'il organisait contre nous. Les Annamites sont d'excellents terrassiers, aussi en peu de temps s'éleva-t-il une quantité de forts qui présentaient de sérieux ouvrages de défense. Le commandant de notre petite armée résolut d'écraser cette insurrection, et c'est du 23 au 25 février dernier que s'accomplit ce projet, par la prise de Go-Cong. La défense de l'ennemi se composait de là citadelle construite devant la ville, à laquelle on arrive par l'arroyo de ce nom. Sur cet arroyo étaient disposées des estacades, et en outre, une plaine marécageuse qui longe le canal, s'étend devant la citadelle et était défendue par une série de forts. Une petite rivière, le Vanietrung qui coule aux pieds de ces forts, leur servait de fossés naturels. Les opérations ont consisté à passer la rivière sur un autre point de manière à tourner la ligne des forts, pendant que des canonnières forçaient les estacades et dégageaient l'arroyo menant à la citadelle. Le passage de cette rivière nécessita la construction d'un pont qui fut établi dans la nuit et dans la matinée du 24 février par les sapeurs du génie, sous la protection d'une colonne composée d'infanterie espagnole et de marins français, commandée par le colonel Palanca y Guttierez, commandant en chef des forces espagnoles. Une batterie de six obusiers français répondait au feu de la place, qui nous a fait subir quelques pertes sensibles, Le dessin n° 5 représente cette action. La colonne effectue le passage de la rivière. Les batteries ennemies tirent sur la tête de la colonne, mais les canonnières mouillées vis à vis font taire le feu. Les forts, tournés par leur droite, sont bientôt abandonnés par leurs défenseurs. Pendant ce temps avait lieu le forcement des estacades par les canonnières 13 et 19. , La principale estacade, formée de pieux entrelacés était protégée par une batterie formidable placée à un coude à cent mètres en arrière. Mais à ce moment les lignes étaient tournées par derrière ; après deux ou trois coups de canon les Annamites abandonnèrent le fort, et quand on arriva à l'estacade, on trouva les pièces abandonnées, les mèches encore allumées jetées à terre. Le dessin n° 2 représente une batterie de six pièces dont le feu vif et bien dirigé a soutenu les attaques de l'ennemi après l'avoir empêché pendant près de deux mois d'augmenter ses moyens de défense. Les autres dessins 3 et 4 représentent les ouvrages de la citadelle de Go-Cong. Après l'enlèvement des premières lignes, une panique s'empara des Annamites et leur fit subitement abandonner cette citadelle, qui cependant aurait pu tenir longtemps, grâce à l'accumulation des obstacles dont on peut se faire une idée d'après nos gravures. Cette citadelle est un grand carré flanqué de deux bastions et dont le parapet est hérissé de bambous pointus. Au delà d'un fossé profond se présente une nouvelle série de ces bambous disposés en chevaux de frise. Au milieu de la cour se groupent de nombreuses cases pleines d'armes et de munitions detoutes sortes.On peut juger par ces détails sommaires de l'importance de l'expédition qui vient d'avoir lieu et des moyens de défense que les rebelles avaient su amasser. Une fois de plus nos braves soldats ont montré que rien ne pouvait arrêter leur bravoure. M. de Fontenay, lieutenant de vaisseau, nous communique en même temps un plan de Go-Cong à lui personnellement adressé par M.Réveillère commandant à Saïgon la canonnière 31. Malgré tout l'intérêt qu'offre ce plan, nous ne le publions pas, parce qu'il ne ferait que répéter en partie les dessins que nous a envoyés M. Roussin. Nous extrayons seulement de la lettre qui accompagne l'envoi de M. Fontenay quelques détails que nous n'avons pas trouvés dans les correspondances publiées jusqu'à ce jour. '1 anoo- Le rac Gua-Cao dans lequel avait pénétré la c , e nière 31 est tellement étroit et sinueux,que c'est à peille si une baleinière peut y naviguer à l'aise. Un detachment de nos troupes fut envoyé à la découverte dans cet arroyo et détruisit quelques ouvrages élevés Par l'ennemi pour intercepter le passage. Cette expéditi" contribua puissamment au succès de l'attaque g rale par la diversion qu'elle opéra et par le deso qu'elle jeta dans les rangs des Annamites. Elle et barqua plusieurs fois des détachements qui a"e brûler des ouvrages avancés, et qui répandIrent ja terreur dans l'âme des soldats de Quandine. Enfin, de tous les récits qui nous parv ressort pour nous que, cette fois comme toujours, soldats et nos marins se sont montrés dignes de leur vieille réputation. Pour extrait. MAC-VERNOL.
 Le Monde illustré 16 mai 1863 - Expedition de Cochinchine - Attaque de Go-Cong - Cuộc viễn chinh Nam Kỳ - Trận tấn công Gò Công   Tuần báo Le Monde illustré của Pháp số ra ngày 16/5/1863     gallica.bnf   Titre : Le Monde illustré 16 mai 1863  Éditeur : [s.n.] (Paris)  Date d'édition : 1863-05-16     308 LE MONDE ILLUSTRÉ     EXPEDITION DE COCHINCHINE. — Attaque de Go-Cong. — Passage de la rivière du Tanien-Trung par les troupes franco-espagnoles. (N°5) — (D'après le croquis de M. Roussin.)
Le Monde illustré 16 mai 1863 - Expedition de Cochinchine - Attaque de Go-Cong - Cuộc viễn chinh Nam Kỳ - Trận tấn công Gò Công Tuần báo Le Monde illustré của Pháp số ra ngày 16/5/1863 gallica.bnf Titre : Le Monde illustré 16 mai 1863 Éditeur : [s.n.] (Paris) Date d'édition : 1863-05-16 308 LE MONDE ILLUSTRÉ EXPEDITION DE COCHINCHINE. — Attaque de Go-Cong. — Passage de la rivière du Tanien-Trung par les troupes franco-espagnoles. (N°5) — (D'après le croquis de M. Roussin.)
 Tuần báo Le Monde illustré của Pháp số ra ngày 16/5/1863   gallica.bnf   LE MONDE ILLUSTRÉ 309     Le village de Go-Cong. (N° 4.)     Aspect intérieur de la citadelle. (N° 3.)     La porte de la citadelle. La batterie d'artillerie de marine (capitaine Marchet) pendant l'attaque. (No 2. ) Types d'indigènes.     A. Rivière de GO-Cong. - B. Citadelle et village. - D. Camp français et espagnol. - E. L'aviso l'Ondine, amiral Bonnard.-G. Colonne de gauche Espagnols et Français).- H. Batteries annamites,  passage de Tanien-Tung.-J. ~Bne j Rouchez). K. Canonniere n° 16. L. canonnière l'Alarme. - M. canonnière n° 13.-N. Canonnière n° 19.     passage de di commandant Pietri. - R. Montagne du cap Saint-Jacques. - S. Montagne de Baria.     EXPÉDITION DE COCHINCHINE. - Vue panoramique de la plaine de Go-Cong montrant les opérations effectuées le 24 février 1863. - (D'après les croquis de M. Roussin.) ., (N° 1.)
Tuần báo Le Monde illustré của Pháp số ra ngày 16/5/1863 gallica.bnf LE MONDE ILLUSTRÉ 309 Le village de Go-Cong. (N° 4.) Aspect intérieur de la citadelle. (N° 3.) La porte de la citadelle. La batterie d'artillerie de marine (capitaine Marchet) pendant l'attaque. (No 2. ) Types d'indigènes. A. Rivière de GO-Cong. - B. Citadelle et village. - D. Camp français et espagnol. - E. L'aviso l'Ondine, amiral Bonnard.-G. Colonne de gauche Espagnols et Français).- H. Batteries annamites, passage de Tanien-Tung.-J. ~Bne j Rouchez). K. Canonniere n° 16. L. canonnière l'Alarme. - M. canonnière n° 13.-N. Canonnière n° 19. passage de di commandant Pietri. - R. Montagne du cap Saint-Jacques. - S. Montagne de Baria. EXPÉDITION DE COCHINCHINE. - Vue panoramique de la plaine de Go-Cong montrant les opérations effectuées le 24 février 1863. - (D'après les croquis de M. Roussin.) ., (N° 1.)
 Le Monde illustré 16 mai 1863 - Tuần báo Le Monde illustré của Pháp số ra ngày 16/5/1863   gallica.bnf   Titre : Le Monde illustré  Éditeur : [s.n.] (Paris)  Date d'édition : 1863-05-16
Le Monde illustré 16 mai 1863 - Tuần báo Le Monde illustré của Pháp số ra ngày 16/5/1863 gallica.bnf Titre : Le Monde illustré Éditeur : [s.n.] (Paris) Date d'édition : 1863-05-16
 Bản đồ Gò Công 1909   belleindochine en 1930 (Itinéraires automobiles, collection du Touring Club, G. Norès Tomes I, II, III):     belleindochine
Bản đồ Gò Công 1909 belleindochine en 1930 (Itinéraires automobiles, collection du Touring Club, G. Norès Tomes I, II, III): belleindochine


 Go Cong 1910-1929 - L'église - Nhà thờ Gò Công.
Go Cong 1910-1929 - L'église - Nhà thờ Gò Công.
 Go Cong 1920-1929 - Pagode Phuoc Thua
Go Cong 1920-1929 - Pagode Phuoc Thua
 Gò Công 1920-1929 - Chùa Đồng Sơn.
Gò Công 1920-1929 - Chùa Đồng Sơn.
 Gò Công 1920-1929 - Chùa Đồng Sơn.
Gò Công 1920-1929 - Chùa Đồng Sơn.


 Gò Công 1910-1929 - Pont Long Thanh - Cầu Long Thạnh
Gò Công 1910-1929 - Pont Long Thanh - Cầu Long Thạnh
 Gò Công 1910-1929 - Bureau des Postes et Télégraphes - Bưu điện
Gò Công 1910-1929 - Bureau des Postes et Télégraphes - Bưu điện
 Gò Công 1910-1929 - L'Hôpital - Bênh Viện
Gò Công 1910-1929 - L'Hôpital - Bênh Viện
 Gò Công 1910-1929 - La Maternité - Nhà Bảo Sanh
Gò Công 1910-1929 - La Maternité - Nhà Bảo Sanh


 GOCONG - L'Inspection - Dinh Tỉnh trưởng Gò Công
GOCONG - L'Inspection - Dinh Tỉnh trưởng Gò Công
 GOCONG - Le marché - Chợ Gò Công
GOCONG - Le marché - Chợ Gò Công
 Go Cong 1910-1929 - Le Trésor - Kho bạc Gò Công
Go Cong 1910-1929 - Le Trésor - Kho bạc Gò Công


Nguồn : Page Phóng Viên Chiến Trường

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Địa Danh Xưa khác