Lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Đồng Tháp, Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xưa


LỊCH SỬ TỈNH KIẾN PHONG



SA ĐÉC - ĐỒNG THÁP THỜI NHÀ NGUYỄN

:

Đất Đồng Tháp được khai phá vào khoảng thế kỷ 17-18 dưới thời các Chúa Nguyễn. Từ đầu thế kỷ 17, đã có lưu dân Việt đến vùng Sa Đéc khẩn hoang, lập ấp.

Thời Gia Long, Sa Đéc thuộc huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh.

Từ năm 1832, sau cải cách hành chính của Minh Mạng, phần đất tỉnh Đồng Tháp ngày nay nằm trên địa bàn hai tỉnh Định Tường Nhà Nguyễn (phần phía Bắc tỉnh Đồng Tháp, cũng là phần phía bờ Bắc sông Tiền Giang) và tỉnh An Giang của nhà Nguyễn (phần phía bờ Nam sông Tiền, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, nay là phần phía Đông Nam tỉnh Đồng Tháp).

Phần đất Đồng Tháp nằm trên đất tỉnh Định Tường nhà Nguyễn thì trực thuộc tỉnh Định Tường này (một trong 3 tỉnh miền Đông của Nam Kỳ Lục Tỉnh) cho đến khi Pháp chiếm Định Tường năm 1861. Phần đất Đồng Tháp nằm trên đất tỉnh An Giang nhà Nguyễn thì trực thuộc tỉnh An Giang này (một trong 3 tỉnh miền Tây của Nam Kỳ Lục Tỉnh) cho đến khi Pháp chiếm tỉnh An Giang năm 1867.

TỈNH ĐỒNG THÁP THỜI PHÁP THUỘC



Thời Pháp thuộc, địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày nay bao gồm toàn bộ đất đai tỉnh Sa Đéc, quận Hồng Ngự của tỉnh Châu Đốc, tổng Phong Thạnh Thượng thuộc quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên và một phần nhỏ đất đai thuộc quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho.

TRƯỚC NĂM 1900:

Sau khi chiếm hết được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào năm 1862, Pháp dần xóa bỏ tên gọi tỉnh Định Tường cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn, đồng thời đặt ra các hạt Thanh Tra. Lúc bấy giờ, hạt Thanh Tra Kiến Tường được thành lập trên địa bàn huyện Kiến Phong thuộc phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường cũ. Trụ sở hạt Thanh tra Kiến Tường đặt tại Cao Lãnh.

Lúc đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở. Về sau, trụ sở được dời từ Cao Lãnh (thuộc thôn Mỹ Trà) đến Cần Lố (thuộc thôn Mỹ Thọ). Chính vì vậy, hạt Thanh tra Kiến Tường cũng được đổi tên thành hạt Thanh tra Cần Lố; bao gồm 3 tổng: Phong Hòa, Phong Phú và Phong Thạnh.

Vào các ngày 20, 22 và 24 tháng 6 năm 1867, Pháp vi phạm hòa ước 1862, chiếm 3 tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Lúc này, thực dân Pháp cũng xóa bỏ tên gọi tỉnh An Giang cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn ở khu vực này, đồng thời cũng đặt ra các hạt Thanh tra.

Ngày 16 tháng 08 năm 1867, Pháp lập hạt Thanh tra Sa Đéc, là một trong 24 hạt thanh tra trên toàn cõi Nam Kỳ. Lúc bấy giờ, hạt Thanh tra Sa Đéc được thành lập trên địa bàn phủ Tân Thành thuộc tỉnh An Giang cũ.

Ngày 4 tháng 12 năm 1867, huyện Phong Phú được tách ra để lập hạt Thanh tra mới.

Ngày 1 tháng 1 năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ là Bonard quyết định sáp nhập huyện Phong Phú với vùng Bãi Sào (Sóc Trăng) lập thành quận đặt dưới sự cai trị của người Pháp, lập Toà Bố tại Sa Đéc. Hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành) đặt lỵ sở tại Sa Đéc gồm có 3 huyện: Vĩnh An, An Xuyên và Phong Phú.

Ngày 20 tháng 9 năm 1870, giải thể hạt Thanh tra Cần Lố, đưa hai tổng Phong Hòa và Phong Phú vào hạt Thanh tra Cái Bè; đồng thời đưa tổng Phong Thạnh qua hạt Thanh tra Sa Đéc.

Ngày 5 tháng 6 năm 1871, giải thể hạt Thanh tra Cái Bè nhập vào địa bàn hạt Thanh tra Mỹ Tho. Đồng thời, địa bàn tổng Phong Thạnh cũng được chia cho 3 hạt Thanh Tra Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc:

1 - Hạt Châu Đốc: lấy phần đất 3 làng An Bình, An Long và Tân Thạnh thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong. Phần đất này nằm ở phía tây bắc Đồng Tháp Mười, sau gọi là tổng An Phước thuộc hạt Châu Đốc.

2 - Hạt Long Xuyên: lấy địa phận các làng Tân Phú, Tân Thạnh của tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong để lập tổng mới gọi là tổng Phong Thạnh Thượng thuộc hạt Long Xuyên.

3 - Hạt Sa Đéc: lấy địa phận các làng Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Nhị Mỹ, Phong Mỹ (trước đây thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong) để lập tổng mới cũng lấy tên là tổng Phong Thạnh. Lại lấy địa phận các làng Mỹ Long, Bình Hàng Tây (nguyên thuộc tổng Phong Phú, huyện Kiến Phong) để lập tổng mới gọi là tổng Phong Nẫm. Hai tổng Phong Thạnh (mới) và Phong Nẫm đều thuộc về hạt Sa Đéc.

Ngày 05 tháng 06 năm 1871, hạt Sa Đéc nhận thêm hạt Cần Thơ vừa bị giải thể.

Ngày 30 tháng 4 năm 1872, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định tách huyện Phong Phú thuộc hạt Sa Đéc và hợp với vùng Bắc Tràng (thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long trước đây) để lập thành một hạt, đặt Toà Bố tại Trà Ôn. Một năm sau, Toà Bố từ Trà Ôn lại dời về Cái Răng.

Ngày 23 tháng 2 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định mới lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực Bassac (Hậu Giang).

Ngày 05 tháng 01 năm 1876, hạt Thanh tra Sa Đéc đổi thành hạt tham biện Sa Đéc, các thôn đổi thành làng. Sa Đéc trở thành một hạt tham biện (arrondissement) thuộc khu vực hành chính (circonscription) Vĩnh Long do thực dân Pháp đặt ra.

Địa hạt Sa Đéc trong giai đoạn 1876-1899 không còn chia cấp huyện nữa mà trực tiếp quản lý từ cấp tổng trở xuống. Hạt Sa Đéc lúc này bao gồm 9 tổng: An Hội, An Mỹ, An Phong, An Thới, An Tịnh, An Trung, An Thạnh, Phong Nẫm, Phong Thạnh.

TỪ NĂM 1900-1945:

Theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương vào ngày 20 tháng 12 năm 1899 thì kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, đổi tất cả các hạt ở Nam Kỳ thành tỉnh. Lúc bấy giờ, các hạt tham biện Sa Đéc, Long Xuyên và Châu Đốc lần lượt trở thành các tỉnh sau: tỉnh Sa Đéc, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc. Tình hình đó kéo dài cho đến đầu năm 1956. Ban đầu, các tổng trực thuộc tỉnh. Về sau, thực dân Pháp mới tiến hành lập các quận trực thuộc tỉnh, quận vốn là đơn vị hành chính trung gian giữa cấp tỉnh và cấp tổng.

Ngày 1 tháng 1 năm 1900, thực dân Pháp lập tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc nằm ở hai bên sông Tiền Giang, giáp các tỉnh Long Xuyên, Tân An, Vĩnh Long, Cần Thơ và Mỹ Tho. Dân số tỉnh Sa Đéc theo số liệu thống kê năm 1901 là 182.924 người và năm 1920 là 203.588 người.

Năm 1903, tỉnh Sa Đéc có 10 tổng với 79 làng trực thuộc như sau: An Hội (6 làng), An Mỹ (15 làng), An Phong (8 làng), An Thới (9 làng), An Tịnh (4 làng), An Trung (6 làng), An Thạnh Thượng (6 làng), An Thạnh Hạ (6 làng), Phong Nẫm (11 làng), Phong Thạnh (6 làng).

Tỉnh lỵ Sa Đéc ban đầu đặt tại làng Vĩnh Phước thuộc quận Châu Thành (kể từ năm 1924). Sau này, thực dân Pháp hợp nhất ba làng Tân Phú Đông, Vĩnh Phước và Hòa Khánh lại thành một làng lấy tên là Tân Vĩnh Hòa. Từ đó, tỉnh lỵ Sa Đéc thuộc địa bàn làng Tân Vĩnh Hòa.

Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Sa Đéc bị chính quyền thực dân Pháp giải thể, toàn bộ diện tích tỉnh bị sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 10 tháng 12 năm 1913, thực dân Pháp thành lập quận Cao Lãnh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 1 tháng 4 năm 1916, thực dân Pháp cho thành lập thêm quận Sa Đéc và quận Lai Vung cùng thuộc tỉnh Vĩnh Long. Sau năm 1924, tỉnh Sa Đéc được tái lập với 3 quận trực thuộc: Châu Thành (đổi tên từ quận Sa Đéc), Cao Lãnh, Lai Vung.

Năm 1917, thực dân Pháp lập quận Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên. Lúc này tổng Phong Thạnh Thượng trực thuộc quận Chợ Mới.

Ngày 19 tháng 12 năm 1929, thực dân Pháp lập thêm quận Hồng Ngự thuộc tỉnh Châu Đốc do tách ra từ quận Tân Châu cùng tỉnh. Quận Hồng Ngự gồm có 2 tổng trực thuộc: Cù Lao Tây và An Phước.

TỪ NĂM 1945-1954:

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, tỉnh Sa Đéc, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc nằm trong danh sách 21 tỉnh ở Nam Bộ. Lúc này, Ủy Ban Kháng chiến Hành Chánh Nam Bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện.

Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975. Đồng thời, Chính quyền Việt Minh cũng cho thành lập thị xã Sa Đéc trực thuộc tỉnh Sa Đéc trên cơ sở tách đất làng Tân Vĩnh Hòa và các vùng lân cận.

Ngày 19 tháng 5 năm 1947, Chính Phủ lâm thời Cộng Hòa Nam Kỳ tự trị thân Pháp quyết định tách đất quận Thốt Nốt để lập thêm quận Lấp Vò ban đầu cùng thuộc tỉnh Long Xuyên.

Ngày 14 tháng 5 năm 1949, tỉnh Sa Đéc nhận thêm quận Lấp Vò từ tỉnh Long Xuyên.

Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy Ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), lúc bấy giờ có sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu.

Theo đó, tỉnh Long Châu Tiền nằm ở phía bờ trái (tả ngạn) sông Hậu, hai bên sông Tiền, thuộc khu 8 và có 5 huyện: Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú B và Lấp Vò. Ngày 14 tháng 5 năm 1949, huyện Lấp Vò được trả về tỉnh Sa Đéc. Cũng trong năm đó, huyện Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền chia thành 2 huyện mới là Phú Châu và Tân Châu.

Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa, gồm 7 huyện: Châu Thành (của tỉnh Sa Đéc cũ), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ Mới. Trong đó, hai huyện Tân Hồng và Tân Châu vốn là hai huyện Hồng Ngự và Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền trước đó.

Tháng 7 năm 1951, nhập huyện Lấp Vò vào tỉnh Long Châu Sa.

Tuy nhiên, tên các tỉnh Long Châu Tiền, Long Châu Sa lại không được Chính Quyền Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại và Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa công nhận.

Đến cuối năm 1954, tỉnh Sa Đéc, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc đều được chính quyền Việt Minh tái lập trở lại.

ĐỒNG THÁP THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA



Ban đầu, Chính Quyền Quốc Gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Sa Đéc, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc như thời Pháp thuộc.

Năm 1955, quận Cao Lãnh vẫn thuộc tỉnh Sa Đéc; tổng Phong Thạnh Thượng vẫn thuộc quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên và quận Hồng Ngự vẫn thuộc tỉnh Châu Đốc như cũ.

Ngày 17 tháng 2 năm 1956, Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ban hành Sắc lệnh 22-NV thành lập tỉnh Phong Thạnh bao gồm đất đai của quận Cao Lãnh thuộc tỉnh Sa Đéc, quận Hồng Ngự thuộc tỉnh Châu Đốc, tổng Phong Thạnh Thượng thuộc quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên và một phần nhỏ đất đai thuộc quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho trước đó. Tỉnh lỵ tỉnh Phong Thạnh đặt tại Cao Lãnh. Thời gian này, tỉnh Sa Đéc vẫn còn tồn tại với 3 quận trực thuộc còn lại: Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò.

Đến ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô Thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập.
Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô Thành Sài Gòn và 22 tỉnh.

Lúc này, tỉnh Phong Thạnh được đổi tên thành Tỉnh Kiến Phong; còn toàn bộ phần còn lại tỉnh Sa Đéc bị giải thể, sáp nhập vào địa bàn tỉnh Vĩnh Long.Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong có tên là "Cao Lãnh", về mặt hành chánh thuộc xã Mỹ Trà, quận Cao Lãnh.

Năm 1957, tỉnh Kiến Phong gồm 4 quận ban đầu:

1 - Cao Lãnh

2 - Mỹ An

3 - Thanh Bình

4 - Hồng Ngự.

Trong đó, quận Mỹ An được thành lập mới trên phần đất phía đông bắc thuộc quận Cao Lãnh và một phần đất đai thuộc quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho trước đó. Quận Thanh Bình được thành lập mới bao gồm toàn bộ đất đai của tổng Phong Thạnh Thượng, toàn bộ Cù Lao Tây (trước thuộc quận Hồng Ngự) và một phần nhỏ đất đai thuộc quận Hồng Ngự trước đó.

Ngày 13 tháng 7 năm 1961, lại tách đất quận Cao Lãnh để lập mới quận Kiến Văn cùng thuộc tỉnh Kiến Phong.

Năm 1969, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho lập mới quận Đồng Tiến thuộc tỉnh Kiến Phong trên cơ sở tách phần lớn vùng đất phía đông của quận Thanh Bình hợp với một phần nhỏ đất đai phía bắc trước đó thuộc quận Cao Lãnh.

Năm 1973, tỉnh Kiến Phong có 6 quận: Cao Lãnh, Mỹ An, Kiến Văn, Thanh Bình, Đồng Tiến, Hồng Ngự.

Ngày 12 tháng 7 năm 1974, Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lập quận mới có tên là quận Hậu Mỹ thuộc tỉnh Định Tường (trước năm 1956 là tỉnh Mỹ Tho). Lúc này, xã Mỹ Đa thuộc quận Mỹ An của tỉnh Kiến Phong được giao về cho quận Hậu Mỹ của tỉnh Định Tường quản lý.
Các đơn vị hành chính của quận Hậu Mỹ chưa sắp xếp xong thì Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

SAU 1975:

Từ tháng 2 năm 1976, tỉnh Kiến Phong được sáp nhập với tỉnh Sa Đéc thời Việt Nam Cộng Hòa thành tỉnh Đồng Tháp.

Địa bàn tỉnh Kiến Phong cũ của Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa tương ứng với các đơn vị hành chính trực thuộc nằm phía bên phải sông Tiền của tỉnh Đồng Tháp ngày nay, bao gồm: Thành phố Cao Lãnh, Thị xã Hồng Ngự, huyện Cao Lãnh, huyện Tháp Mười, huyện Thanh Bình, huyện Tam Nông, huyện Hồng Ngự và huyện Tân Hồng.

LỊCH SỬ TỈNH SA ĐÉC



THỜI PHONG KIẾN:

Trước khi chúa Nguyễn khai phá miền đất phía Nam, Sa Đéc thuộc đất Tầm Phong Long của Thủy Chân Lạp, với tên gọi nguyên gốc là Phsar Dek. Nhiều người cho rằng Sa Đéc theo tiếng Khmer nghĩa là "chợ sắt". Tuy nhiên nhà văn Sơn Nam và nhiều nhà nghiên cứu khác không chắc chắn lắm với luận điểm này.

Khoảng cuối thập niên 1750, chúa Nguyễn thành lập năm đạo ở miền Tây Nam Bộ, để bảo vệ cho Dinh Long Hồ trong đó có Đông Khẩu Đạo (Sa Đéc). Trong một thời gian dài, Sa Đéc từng là một trong những khu chợ sung túc nhất ở phía Nam.

Năm 1832, sau khi Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng chia lại Miền Nam thành Nam Kỳ Lục Tỉnh. Khi đó Sa Đéc lại thuộc phủ Tân Thành, tỉnh An Giang.

SA ĐÉC THỜI PHÁP THUỘC



Sau khi chiếm hết được ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ vào năm 1867, thực dân Pháp dần xóa bỏ tên gọi tỉnh An Giang cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn, đồng thời đặt ra các hạt Thanh tra. Địa bàn tỉnh An Giang trước đây được chia thành 3 hạt: hạt Châu Đốc (phủ Tuy Biên cũ), hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành cũ) và hạt Ba Xuyên.

Lúc bấy giờ, hạt Thanh tra Tân Thành được thành lập trên địa bàn phủ Tân Thành, tỉnh An Giang cũ. Trụ sở hạt Thanh tra Tân Thành đặt tại Sa Đéc. Lúc đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở. Về sau, hạt Thanh tra Tân Thành cũng được đổi tên thành hạt Thanh tra Sa Đéc. Theo Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ Bonard ngày 1 tháng 1 năm 1868, hạt Thanh tra Sa Đéc gồm 3 huyện là An Xuyên, Vĩnh An, Phong Phú và trị sở (gọi là Tòa bố) đặt tại Sa Đéc.

Ngày 20 tháng 9 năm 1870, giải thể hạt Thanh tra Cần Lố (trước đây thuộc địa bàn tỉnh Định Tường), đồng thời đưa tổng Phong Thạnh qua hạt Thanh tra Sa Đéc. Lúc này, hạt Sa Đéc cũng lấy thêm địa phận các làng Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Nhị Mỹ, Phong Mỹ (trước đây thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong) để lập tổng mới cũng lấy tên là tổng Phong Thạnh. Lại lấy địa phận các làng Mỹ Long, Bình Hàng Tây (nguyên thuộc tổng Phong Phú, huyện Kiến Phong) để lập tổng mới gọi là tổng Phong Nẫm. Hai tổng Phong Thạnh (mới) và Phong Nẫm đều thuộc về hạt Sa Đéc.

Ngày 30 tháng 4 năm 1872, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định sáp nhập huyện Phong Phú với vùng Bắc Tràng (thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long trước đây) để lập thành một hạt, đặt Toà Bố tại Trà Ôn. Một năm sau, Toà Bố từ Trà Ôn lại dời về Cái Răng.

Ngày 23 tháng 2 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định mới lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực hành chính Bassac (Hậu Giang).

Ngày 5 tháng 1 năm 1876, hạt Thanh tra Sa Đéc đổi thành hạt tham biện Sa Đéc, các thôn đổi thành làng. Sa Đéc trở thành một hạt tham biện (arrondissement) thuộc khu vực hành chính (circonscription) Vĩnh Long do thực dân Pháp đặt ra. Địa hạt Sa Đéc trong giai đoạn 1876-1899 không còn chia cấp huyện nữa mà trực tiếp quản lý từ cấp tổng trở xuống.

Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Sa Đéc trở thành tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc nằm ở hai bên sông Tiền Giang, giáp các tỉnh Long Xuyên, Tân An, Vĩnh Long, Cần Thơ và Mỹ Tho. Dân số tỉnh Sa Đéc theo số liệu thống kê năm 1901 là 182.924 người và năm 1920 là 203.588 người.

Năm 1903, tỉnh Sa Đéc có 10 tổng với 79 làng trực thuộc như sau: An Hội (6 làng), An Mỹ (15 làng), An Phong (8 làng), An Thới (9 làng), An Tịnh (4 làng), An Trung (6 làng), An Thạnh Thượng (6 làng), An Thạnh Hạ (6 làng), Phong Nẫm (11 làng), Phong Thạnh (6 làng).

Lúc bấy giờ, toàn Tỉnh Sa Đéc có các Chợ sau:

1 - Chợ Tân Quy Đông (tổng An Thạnh Hạ)

2 - ChợTân Phú Đông (tổng An Trung)

3 - Chợ Nha Mân (làng Phú Nhuận, tổng An Mỹ)

4 - Cái Tàu Hạ (làng Phú Hựu, tổng An Mỹ)

5 - Chợ Cao Lãnh (làng Mỹ Trà, tổng Phong Thạnh)

6 - Chợ Hòa An (tổng An Tịnh)

7 - Cái Tàu Thượng (làng Hội An, tổng An Thạnh Thượng)

8 - Chợ Cồn (làng Tân Quy Đông, tổng An Thạnh Hạ)

9 - Chợ Vĩnh Phước (tổng An Trung)

10 - Chợ Tân Hưng (tổng An Hội)

11 - Chợ Lai Vung (làng Tân Lộc, tổng An Thới)

12 - Chợ Mỹ Ngãi (tổng Phong Thạnh)

13 - Chợ Cần Lố (làng Mỹ Thọ, tổng Phong Nẫm)

14 - Chợ Đất Sét (làng Mỹ An, tổng An Thạnh Thượng)

15 - Chợ Cai Châu (làng Tân Mỹ, tổng An Thạnh Thượng)

16 - Chợ Chùa (làng Tân An Trung, tổng An Thạnh Hạ)

Tỉnh lỵ Sa Đéc ban đầu đặt tại làng Vĩnh Phước thuộc quận Châu Thành (kể từ năm 1924). Sau này, Pháp hợp nhất ba làng Tân Phú Đông, Vĩnh Phước và Hòa Khánh lại thành một làng lấy tên là Tân Vĩnh Hòa. Từ đó, tỉnh lỵ Sa Đéc thuộc địa bàn làng Tân Vĩnh Hòa.

Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Sa Đéc bị giải thể, toàn bộ diện tích tỉnh bị sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long.

Sau năm 1924, tỉnh Sa Đéc được tái lập với 3 quận trực thuộc: Châu Thành, Cao Lãnh, Lai Vung.

Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, tỉnh Sa Đéc là một trong số 21 tỉnh của Nam Bộ. Lúc này, Ủy Ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975.

Ngày 14 tháng 5 năm 1949, huyện Lấp Vò của tỉnh Long Xuyên trước đó được nhập vào tỉnh Sa Đéc. Đồng thời, tỉnh Sa Đéc nhận thêm làng Phong Hòa trước đó thuộc tổng An Trường, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ và tỉnh cũng giao lại làng Hội An trước đó thuộc quận Châu Thành cho tỉnh Long Xuyên quản lý.

Tháng 6 năm 1951, Chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sáp nhập tỉnh Sa Đéc với tỉnh Long Châu Tiền (bao gồm một phần đất của tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc trước đó) thành tỉnh Long Châu Sa.

Tuy nhiên tên tỉnh Long Châu Sa không được Chính Quyền Quốc Gia Việt Nam của Vua Bảo Đại và Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa công nhận.

Tỉnh Long Châu Sa tồn tại đến năm 1954 bị giải thể và tỉnh Sa Đéc được tái lập.

SA ĐÉC THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA



Ban đầu, Chính quyền Quốc Gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Sa Đéc như thời Pháp.

Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tách quận Cao Lãnh ra khỏi tỉnh Sa Đéc để nhập vào tỉnh Phong Thạnh mới được thành lập. Tỉnh lỵ tỉnh Phong Thạnh đặt tại Cao Lãnh. Thời gian này, tỉnh Sa Đéc vẫn còn tồn tại với 3 quận trực thuộc còn lại: Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò.

Đến ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh.

Lúc này, tỉnh Phong Thạnh được đổi tên thành tỉnh Kiến Phong; còn tỉnh Sa Đéc bị giải thể, sáp nhập vào địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Địa bàn tỉnh Sa Đéc vừa bị giải thể tương ứng với quận Sa Đéc và quận Lấp Vò cùng thuộc tỉnh Vĩnh Long, riêng quận Lai Vung trước đó cũng bị giải thể và sáp nhập vào quận Lấp Vò.

Ngày 11 tháng 7 năm 1962, tỉnh Vĩnh Long cho thành lập mới hai quận là Đức Tôn và Đức Thành, do lần lượt tách ra từ hai quận Sa Đéc và Lấp Vò.

Ngày 24 tháng 09 năm 1966, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa quyết định tái lập tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc mới tách ra từ tỉnh Vĩnh Long, chỉ gồm phần đất nằm giữa hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang, với diện tích khoảng 900 km². Sa Đéc phía bắc giáp tỉnh Kiến Phong, phía đông giáp tỉnh Định Tường, phía đông và đông nam giáp tỉnh Vĩnh Long, phía tây nam giáp tỉnh Phong Dinh và phía tây giáp tỉnh An Giang.

Tỉnh Sa Đéc khi đó tỉnh lỵ có tên là "Sa Đéc", bao gồm 4 quận trực thuộc:

1 - Quận Lấp Vò, gồm 2 tổng Phú Thượng và Phong Thới với 8 xã.

2 - Quận Châu Thành (do đổi tên từ quận Sa Đéc cũ), gồm 3 tổng An Thạnh, An Thới và An Trung với 13 xã. Đến ngày 14 tháng 2 năm 1968, quận Châu Thành lại đổi tên thành quận Đức Thịnh.

3 - Quận Đức Thành, gồm 3 tổng An Khương, Ti Thiện và Tiến Nghĩa với 8 xã.

4- Quận Đức Tôn, gồm 2 tổng An Mỹ Đông và An Mỹ Tây với 7 xã.

SA ĐÉC SAU 1975



Sau sự kiện ngày 30 tháng 04 năm 1975, Chính quyền quân quản Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì Tỉnh Sa Đéc như trước đó. Cho đến tháng 2 năm 1976 thì hợp nhất lại 2 Tỉnh Sa Đéc và Tỉnh Kiến Phong thời Việt Nam Cộng Hòa lại thành một tỉnh mới có tên là tỉnh Đồng Tháp.

(Tài liệu của Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)

Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Toà Hành Chánh Tỉnh Kiến Phong (1973)
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Cao Lãnh
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Bản đồ Quận Cao Lãnh
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Bản đồ Quận Cao Lãnh
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Bản Đồ hành chánh tỉnh Kiến Phong 1973


Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Hội Trường
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Kiến Phong - Cao Lãnh 1974


Sa Đéc 1969

Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Sa Đéc 1969
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Sa Đéc 1969
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Sa Đéc 1969


Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Đồng Tháp tháng 4/1959 Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông, Trưởng Đoàn Văn nghệ Vì Dân, đi trình diễn văn nghệ ở các tỉnh Miền Nam Việt Nam với các nghệ sĩ: - Hàng đầu, từ trái sang phải: Trần Ðô (chuyên viên sân khấu); nghệ sĩ Kiều Hạnh (thân mẫu của ca sĩ Mai Hương); tam ca nhi đồng Phước Vân, Bích Vân, Ngọc Vân (và một em bé tập sự); nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, trưởng đoàn (có dấu “X”); bà kịch sĩ Ba Vân; ca sĩ Khánh Ngọc; ca sĩ Minh Diệu; nghệ sĩ Trần Văn Trạch; vũ sư Trịnh Toàn; ca sĩ Mai Ly; nhạc sĩ Mạnh Phát; diễn viên điện ảnh Trang Thiên Kim; các ca sĩ Kim Lan, Kim Oanh. - Hàng thứ nhì, từ trái sang phải: Anh Việt (chuyên viên ánh sáng); Trần Quang, Trần Thịnh, Trọng Tuyến (các chuyên viên âm thanh); nghệ sĩ Ba Vân; các ca sĩ Ngọc Quang, Thanh Nguyên; nghệ sĩ Bảy Xê; nhạc sĩ Minh Kỳ; nhạc sĩ Thu Hồ; nghệ sĩ Quách Ðàm, nhạc sĩ Hoài Linh. Các hàng sau là tài xế, nhân viên an ninh...
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Chợ Sa Đéc
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Không ảnh Sa Đéc xưa
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Sa Đéc 1920s - Cầu sắt quay Sa Đéc
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Sa Đéc 1920s - Cầu sắt quay Sa Đéc
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Sa Đéc 1920s - Cầu sắt quay Sa Đéc Trên thành cầu nhìn thấy hai chiếc đèn lồng thắp sáng bằng đèn dầu.


Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Nhà bảo sanh Sa Đéc thập niên 1920
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Nhà bảo sanh Sa Đéc thập niên 1920
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Sa Đéc 1920-1929 - Trường Nam tiểu học Sa Đéc
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Sa Đéc 1920-1929 - Trường Nữ tiểu học Sa Đéc


Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Cầu Quay
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Tòa Bố tỉnh Sa Đéc (nhìn từ cầu quay)
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Tòa Bố tỉnh Sa Đéc (nhìn từ cầu quay)
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
SADEC - Parc de l'Inspection. Vue sur l'arroyo - Công viên xung quanh Tòa Bố, nhìn từ rạch
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
SADEC - Parc de l'Inspection - Công viên xung quanh Tòa Bố
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
SADEC - L'hôpital - Bệnh viện Sa Đéc
Tỉnh Kiến Phong (Sa Đéc) ngày xửa ngày xưa
Một con rạch tại Sadec


Nguồn : Page Phóng Viên Chiến Trường

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Địa Danh Xưa khác