Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa


Nhân Bản - Dân Tộc - Khai Phóng

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục tại miền Nam Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa.

Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa quy định quyền tự do giáo dục, và quy định nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí, "nền giáo dục đại học được tự trị", và "những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn". Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm tiểu học, trung học và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương tới địa phương.

Nhìn chung, mô hình giáo dục ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1960-1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử trí thức và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chuyển sang mô hình giáo dục đại chúng và thực tiễn.

Tổng Quan Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa



Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Cao Miên. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào ngày 17 tháng 4 năm 1945, chương trình học của Việt Nam - còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn ban hành trong khoảng thời gian từ 20 tháng 4 đến 20 tháng 6 năm 1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam - được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc. Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ nhất Cộng hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình cũ của Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục người Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo.

Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ nhất Cộng hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã bắt đầu xây dựng nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.[4] Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.

Tỷ Lệ Người Đi Học:

Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm, từ 1955 đến 1975, bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7–7,5% cho giáo dục), nhưng theo Nguyễn Thanh Liêm (cựu Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa), nền giáo dục đã phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp ngay cả ở các quốc gia phát triển. Kết quả này là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và dành nhiều tâm huyết đóng góp cho nghề nghiệp, cũng như nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp tài chính cho việc xây dựng nền giáo dục, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam.[3]

Năm học 1973–1974, Việt Nam Cộng hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trung học, và 101.454 sinh viên đại học[5] Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Quốc gia Hành chánh và ở các trường đại học cộng đồng), chiếm 0,75% dân số.[6]

Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa thực hiện phổ cập tiểu học, mọi trẻ em đến 6 tuổi đều có quyền đăng ký đi học tại trường công. Tuy nhiên tới lớp 5 (lớp cuối cùng của cấp tiểu học), một loạt các kỳ thi được đề ra với tỷ lệ đánh trượt cao ở mọi giai đoạn:

Học hết tiểu học phải trải qua kỳ thi vào trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi có tính chọn lọc khá cao, tỷ lệ đậu vào trường công khoảng 62%[7], số 38% bị trượt phải vào trường tư và tự trang trải học phí.
Đến cuối năm lớp 11, học sinh phải thi Tú tài I, cuối năm lớp 12 phải thi Tú tài II. Nói chung Tú tài I tỷ lệ đậu chỉ khoảng 15–30% và Tú tài II khoảng 30–45%.[8] Nam giới thi hỏng Tú tài I phải trình diện nhập ngũ quân đội[9] và đi quân dịch hai năm[10] hoặc vào trường hạ sĩ quan Đồng Đế ở Nha Trang.
Do số thí sinh bị đánh trượt cao, học sinh thời Việt Nam Cộng hòa phải chịu áp lực rất lớn về thi cử nên phải học tập rất vất vả, và chỉ khoảng 24% tổng số thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18 là được đi học
Tới năm 1974, tỷ lệ người dân biết đọc và viết của Việt Nam Cộng hòa viết ước tính khoảng 70% dân số.

Triết Lý Giáo Dục



Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, Việt Nam Cộng hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật... Ba nguyên tắc "nhân bản", "dân tộc", và "khai phóng" được chính thức hóa ở hội nghị này.[15][16] Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (1967). Theo Nguyễn Thanh Liêm trong một công trình nghiên cứu xuất bản tại Santa Ana năm 2006, và theo tài liệu Chính sách văn hóa giáo dục của Hội đồng Văn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng hòa ấn hành năm 1972, những nguyên tắc trên có thể hiểu như sau.

1 - Nhân Bản.

Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Đề cao những giá trị thiêng liêng của con người. Chủ trương sự phát triển quân bình và toàn diện của mỗi người và mọi người. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc... Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

2 - Dân Tộc.

Giáo dục tôn trọng giá trị đặc thù, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải biểu hiện, bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác. Giáo dục còn nhằm bảo đảm sự đoàn kết và trường tồn của dân tộc, sự phát triển điều hòa và toàn diện của quốc gia.

3 - Khai Phóng.

Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải không ngừng hướng tới sự tiến bộ, tôn trọng tinh thần khoa học, mở rộng tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, tinh hoa văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới, góp phần phát triển sự cảm thông và hợp tác quốc tế, tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại.

(Tài liệu của Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)

 SAIGON 1965 - Trường Nữ Trung Học Gia Long   - Photo by Thomas W. Johnson
SAIGON 1965 - Trường Nữ Trung Học Gia Long - Photo by Thomas W. Johnson
 SAIGON 1969 - Trường Nữ Trung Học Gia Long
SAIGON 1969 - Trường Nữ Trung Học Gia Long


SAIGON 1920-1939 - Collège de Jeunes Filles Indigènes - Trường trung học nữ sinh bản xứ, sau này là Nữ trung học Gia Long. Lược Sử Trường Áo Tím-Gia Long webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:NNWrSIQrLFo... . . . Trường Áo Tím-Gia Long trong các giai đoạn lịch sử A) Giai đoạn một 1915-1918: École Primaire de Jeunes Filles Indigènes Mặc dù quyết định thành lập trường đã được chấp nhận từ năm 1909, thời toàn quyền Klobukowski, nhưng thiếu kinh phí nên mãi đến năm 1913 trường mới bắt đầu được xây dựng. Ngày 6/11/1913 Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương Albert Sarraut đã chủ tọa lễ đặt viên đá đầu tiên16. Dãy nhà thứ nhất được xây trên khu đất rộng ở đại lộ Legrand de la Liraye, tức đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn (nay là Điện Biên Phủ). Nhiều vật liệu xây dựng được chở từ Pháp, chẳng hạn mỗi viên ngói cũ còn chữ "Marseille" in bên trong. Ngày 19/10/1915 toàn quyền Đông Dương Ernest Nestor Roume và Thống đốc Gourbeil cắt băng khánh thành để khai giảng khóa học đầu tiên. Nhà trường cũng quyết định chọn màu áo tím làm đồng phục cho nữ sinh. Theo Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương (Annuaire General de l’Indochine), từ 1915 đến 1918 tên của trường là École Primaire de Jeunes Filles Indigènes de Saigon, còn người bản xứ thì gọi là Nữ Học Đường hay Trường Áo Tím. Khóa đầu tiên gồm 42 nữ sinh, tất cả đều cư ngụ ở Sài Gòn và vùng lân cận. Sau này mới có nội trú cho nữ sinh ở xa. Cũng theo các Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương từ năm 1915 đến 1918, Giám Đốc (Directrice) của trường lần lượt gồm những vị sau đây: Niên khóa 1915-1916: Bà Lagrange (Clémence-Marie). Niên khóa 1916-1917: Cô Batisse: (Marie-Antoinette). Niên khóa 1917-1918: Cô Batisse (Marie-Antoinette). Như vậy trong 3 năm đầu tiên trường được lãnh đạo bởi hai vị Giám Đốc, các giáo viên, nhân viên cũng đều là người Pháp. Trong giai đoạn này trường đào tạo bậc Tiểu Học với cả 2 cấp Sơ Học và Tiểu Học. Học sinh lớp Dự Bị (Préparatoire) đã bắt đầu học Pháp Văn. B) Giai đoạn hai từ 1919 đến 1940: Collège de Jeunes Filles Indigènes a)Khởi đầu bậc cao đẳng tiểu học với tên Collège de Jeunes Filles Niên khóa 1918-1919 một dãy nhà lầu mới được xây song song với tòa nhà cũ cho các nữ sinh nội trú và cũng để chuẩn bị cho việc mở thêm các lớp bậc Cao Đẳng Tiểu Học. Phía sau dãy nhà này cũng có thêm dãy nhà trệt dùng làm bệnh thất, phòng giặt, nhà bếp và cũng là nơi giảng dạy các môn nữ công gia chánh. Theo Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương thì năm 1919 trường đã được đổi tên là Collège de Jeunes filles Indigènes và bắt đầu mở thêm các lớp bậc Cao Đẳng Tiểu Học. Khóa học được khai giảng bởi Toàn Quyền Albert Sarraut. Năm 1922 một phiến đá cẩm thạch khắc tên Collège de Jeunes Filles Indigènes được dựng lên trước cổng trường. Thế nhưng người miền Nam vẫn quen gọi là Trường Áo Tím hay Nữ Học Đường. Để được học bậc Cao Đẳng Tiểu Học ở trường Áo Tím, học sinh phải có bằng CEPCI và phải đậu kỳ thi tuyển. Trường cũng có mở lớp Tiếp Liên để giúp các học sinh học luyện để thi lại và có lớp Complémentaire dạy cho các học sinh đã học xong Tiểu Học để ra làm cô giáo. b) Giai đoạn hoàn chỉnh bậc Cao Đẳng Tiểu Học Từ năm 1922 trường đào tạo cả hai bậc Tiểu Học và Cao Đẳng Tiểu Học. Học hết Cao Đẳng Tiểu Học học sinh thi lấy bằng Thành Chung gồm 2 kỳ thi: thi viết tại trường; đậu thi viết sẽ sang trường Petrus Ký thi vấn đáp. Ở bậc Cao Đẳng Tiểu Học tiếng Pháp được dùng làm chuyển ngữ. Ngay cả khi đàm thoại với nhau trong trường các nữ sinh cũng phải nói tiếng Pháp. Mỗi tuần học sinh chỉ học 2 giờ tiếng Việt, và chỉ được nói tiếng Việt trong giờ này. Từ năm 1927 đến năm 1942 nữ giáo sư Saint Marty được bổ làm Hiệu Trường. Tổng Giám Thị lần lượt là: Bà Lagrange, Bà Lambruschini, Bà Boisson, Bà Guiraud. C) Giai đoạn 3 từ 1940 đến 1950: Collège Gia Long a) Collège Gia Long- chấm dứt bậc Tiểu Học Năm 1940 Nha Học Chánh của Pháp đệ trình kiến nghị đổi tên trường thành Collège Gia Long và nghị định đã được Thống Đốc Nam Kỳ Georges Rivoal ký ngày 2/12/194231. Tuy vậy mãi đến năm 1947 trước cổng trường vẫn còn bảng Collège de Jeunes Filles Indigènes. Niên khóa 1940-1941 là khóa cuối cùng trường còn bậc Tiểu Học. Sau đó trường chỉ còn 4 cấp lớp từ năm thứ nhất đến năm thứ tư bậc Cao Đẳng Tiểu Học và vẫn dạy theo chương trình Pháp-Việt. Thời gian này trường vẫn chưa có bậc Trung Học (Ban Tú Tài). Các nữ sinh có bằng Thành Chung muốn học tiếp lên cao thì phải qua Trường Petrus Trương Vĩnh Ký. b) Những biến động lịch sử thời đệ nhị thế chiến và phong trào yêu nước Năm 1940 khuôn viên Collège Gia Long và Petrus Ký bị quân đội Nhật chiếm đóng. Trường Gia Long phải dời về trường tiểu học Đồ Chiểu ở Tân Định, còn Petrus Ký qua trường Normal gần Sở Thú. Đến năm 1944 Gia Long trở về cơ sở cũ còn Petrus Ký phải đến Collège Gia Long học nhờ vì trường Petrus Ký vẫn còn bị trưng dụng. Nhưng chỉ được 1 thời gian ngắn, vì chiến cuộc, trường lại phải tạm đóng cửa đến năm 1947 mới mở lại bình thường. Năm 1950 các nữ sinh hưởng ứng các phong trào chống Pháp, đấu tranh đòi độc lập cho dân tộc và một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Cao điểm là sự kiện Trần Văn Ơn, một học sinh Petrus Ký bị trúng đạn chết trong cuộc biểu tình. Các cuộc đấu tranh này cũng góp phần ảnh hưởng đến sự chuyển đổi chương trình học và cơ cấu hành chánh của trường về sau. D) Giai Ðoạn Cuối 1951-1975: Trường Gia Long và chương trình Việt. 1)1951-55: đổi từ chương trình Pháp-Việt qua chương trình Việt bậc trung học đệ nhất cấp Đầu thập niên 1950, trường bắt đầu chuyển đổi chương trình Pháp-Việt thành chương trình Việt nên trường dạy cả hai chương trình cho đến khi không còn các lớp chương trình Pháp nữa. Vì vậy, bên chương trình Pháp - Việt thì tên trường vẫn là Collège Gia Long, và sau đó là Lycée Gia Long; bên chương trình Việt là Trường Trung Học Gia Long. Tuy vậy, trong vài năm sau bảng hiệu trước cổng trường vẫn còn viết tên cũ “Collège Gia Long” rồi “Lycée Gia Long”. Năm 1956 mới đổi bảng hiệu thành Trường Nữ Trung Học Gia Long. Niên khóa 1952-1953 đồng phục áo tím được đổi thành áo dài trắng về sau chọn thêm huy hiệu bằng thiếc in tên trường và hoa mai vàng trên nền xanh. Nhưng vì kinh tế khó khăn nên không bắt buộc nữ sinh phải mặc đồng phục. Đến thập niên 60, huy hiệu bằng thiếc được thay thế bằng phù hiệu vải với chữ Gia Long màu đỏ, các chữ khác màu xanh dương, may liền trên áo (xem hình phù hiệu đính kèm). Cuối thập niên 1950 áo dài thiên thanh được chọn làm lễ phục cho tất cả các nữ sinh trung học, trong đó có nữ sinh Gia Long, mặc trong những ngày lễ và thứ hai hằng tuần để chào quốc kỳ. Học sinh đậu vào Đệ Thất được mua vải xanh từ trường. Đến giữa thập niên 1960 thì không còn lễ phục nữa. Tất cả nữ sinh đều mặc áo dài trắng. Niên khóa 1951-1952 trường bắt đầu mở lớp Đệ Thất chương trình Việt để thay cho năm thứ nhất bậc Cao Đẳng Tiểu Học (première année) chương trình Pháp-Việt. Cứ thế, mỗi năm dần bỏ các lớp chương trình Pháp-Việt và thay bằng chương trình Việt. Trong giai đoạn đầu chuyển đổi, các lớp Trung Học Đệ Nhất Cấp (từ Đệ Thất đến Đệ Tứ) dùng chuyển ngữ tiếng Việt, nhưng học sinh phải học đồng thời cả hai ngoại ngữ Pháp và Anh. Đến niên khóa 1954-1955 chương trình Việt đã được giảng dạy từ lớp Đệ Thất đến lớp Đệ Tứ, và vào năm 1955 kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp chương trình Việt được tổ chức lần đầu tiên 2) 1955-1975: hoàn chỉnh Trung Học Đệ Nhị Cấp chương trình Việt Sau kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp 1955 trường mở thêm các lớp đệ nhị cấp: niên khóa 1955-56 mở các lớp Đệ Tam, 1956-57 các lớp Đệ Nhị và 1957-58 các lớp Đệ Nhất. Lần đầu tiên các nữ sinh Gia Long dự thi Tú Tài I năm 1957 và Tú Tài II 1958. Như vậy năm 1958 trường Nữ Trung Học Gia Long đã bắt đầu giảng dạy trọn vẹn chương trình trung học Đệ Nhất Cấp và Đệ Nhị Cấp. Những năm đầu chỉ có 3 lớp Đệ Nhất ban A (Sinh Vật) và 1 lớp ban C (Văn Chương, Ngoại Ngữ). Ban B (Toán) phải qua trường Petrus Ký học43. Đến năm 1961 trường mới có đủ ba ban A, B, C. Khi đã có cả Đệ Nhất cấp và Đệ Nhị Cấp các lớp từ Đệ Thất đến Đệ Ngũ (lớp 6 đến lớp 8) học buổi chiều; các lớp từ Đệ Tứ đến Đệ Nhất (lớp 9 đến lớp 12) học buổi sáng. Tổng cộng trường có gần 100 lớp. Năm 1964 trường không còn nhận học sinh nội trú nữa. Niên khóa cuối cùng 1974-75 có hơn 5000 ngàn học sinh. Mỗi cấp lớp từ Đệ Thất đến Đệ Tứ đểu có 15 lớp; từ Đệ Tam đến Đệ Nhất có 14 lớp gồm 9 lớp ban A, 3 lớp ban B và 2 lớp ban C. Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ học 1 ngoại ngữ Anh hoặc Pháp. Bắt đầu lớp Đệ Tam, học sinh phải học thêm 1 ngoại ngữ phụ và có thể chọn Anh Văn, Pháp Văn hay Đức Ngữ. Các nữ sinh đạt được thứ hạng Bình, Ưu hay Tối Ưu trong hai kỳ thi Tú Tài I và II sẽ được nhà trường ban tặng medaille Hoa Mai Vàng Gia Long (xem hình Hoa Mai đính kèm). Truyền thống tốt đẹp và độc đáo này chỉ có ở Trường Nữ Trung Học Gia Long mà thôi. Năm 1969, theo yêu cầu của Bộ Giáo Dục và Bộ Xã Hội trường mở hệ bán công ban đêm, thu học phí rất thấp. Phù hiệu của học sinh Gia Long đêm giống phù hiệu Gia Long ngày, nhưng tất cả các chữ và hoa mai trên phù hiệu được thêu màu xanh lá cây nhạt. Hệ bán công chấm dứt năm 1975. 2) Ban Giám Đốc trong giai đoạn cuối từ 1950 đến 1975 Niên khóa 1950-1951, giáo sư môn sử địa của trường, cũng là một cựu nữ sinh Áo Tím, Cô Nguyễn Thị Châu là người Việt đầu tiên được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng trường Gia Long. Trong suốt giai đoạn cuối Ban Giám Đốc trường ngoài Hiệu Trưởng còn có Giám Học và Tổng Giám Thị (đặc trách buổi sáng); Phụ Tá Giám Học và Phụ Tá Tổng Giám Thị (đặc trách buổi chiều). Từ năm 1952 đến năm 1975 Ban Giám Đốc trường lần lượt như sau: 1952-1963: Hiệu Trưởng: Bà Huỳnh Hữu Hội Giám Học: đầu tiên là Bà Nguyễn Như Hằng, sau là Bà Nhan Tú Quyên Phụ Tá Giám Học: Bà Kha Thị Huỡn Tổng Giám Thị: Đầu tiên là Bà Lưu Thị Dậu, sau đó là Bà Emilie Võ Thành (tức Võ Thành Duyên) và cuối cùng là Bà Trần Thị Sách Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Sương. 1963-1964: Hiệu Trưởng: Bà Nguyễn Thu Ba Giám Học: Bà Trần Thị Tỵ Phụ Tá Giám Học: Cô Đặng Thị Ngọc Tổng Giám Thị và Phụ Tá: Bà Trần thị Sách và Bà Nguyễn thị Sương. 1964-1965: Hiệu Trưởng: Bà Trần Thị Khuê; Giám Học, Phụ Tá Giám Học; Tổng Giám Thị, Phụ Tá Tổng Giám Thị: như thời HT Nguyễn Thu Ba. 1965-1969: Hiệu Trưởng: Cô Trần Thị Tỵ Giám học: Bà Trần Thị Kỳ Phụ Tá Giám Học: Bà Nguyễn Ngọc Anh Tổng Giám Thị: Bà Lê Kim Lan Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Tám. Năm 1969 Bà Bùi Thị Lắm lên làm Hiệu Trưởng trong 3 tháng. 1969-1975: Hiệu Trưởng: Bà Phạm Văn Tất (Khuê danh Võ Bạch Cúc). Giám học: Bà Huỳnh Thanh Nhạn Phụ Tá Giám Học: Bà Nguyễn Ngọc Anh Tổng Giám Thị: Đầu tiên là Bà Đoàn Nguyệt Thu; 1 năm sau đến Bà Kha Thị Huỡn, đến giữa niên khóa 74-75 Bà Lâm Thị Nguyệt thay thế Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Tám, năm 1973 đến Bà Lâm Xíu Ngó. Khối Gia Long đêm từ năm 1969 đến năm 1975 Hiệu trưởng: Bà Phạm Văn Tất Giám Học: Bà Huỳnh Thanh Nhạn Phụ tá Giám Học: Bà Khưu Quỳnh Hương Tổng Giám Thị: đầu tiên là Bà Nguyễn Thị Tám; sau đó là Bà Trần Ngọc Anh. “Từ năm 1975, trường đã bị đổi tên nhưng với tất cả chúng ta trường vẫn là trường Gia Long yêu quý. Cũng như Sài Gòn vẫn mãi mãi là Sài Gòn, trong trái tim, trong nguồn nhớ không nguôi”. Sydney tháng 4 năm 2013. Dương Thanh-Bình GL75
Trường Trung Học Nữ Sinh Bản Xứ (sau này là Nữ Trung Học Gia Long) Collège de Jeunes Filles Indigènes - Saigon 1920s. Lược Sử Trường Áo Tím-Gia Long . . . Trường Áo Tím-Gia Long trong các giai đoạn lịch sử A) Giai đoạn một 1915-1918: École Primaire de Jeunes Filles Indigènes Mặc dù quyết định thành lập trường đã được chấp nhận từ năm 1909, thời toàn quyền Klobukowski, nhưng thiếu kinh phí nên mãi đến năm 1913 trường mới bắt đầu được xây dựng. Ngày 6/11/1913 Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương Albert Sarraut đã chủ tọa lễ đặt viên đá đầu tiên16. Dãy nhà thứ nhất được xây trên khu đất rộng ở đại lộ Legrand de la Liraye, tức đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn (nay là Điện Biên Phủ). Nhiều vật liệu xây dựng được chở từ Pháp, chẳng hạn mỗi viên ngói cũ còn chữ "Marseille" in bên trong. Ngày 19/10/1915 toàn quyền Đông Dương Ernest Nestor Roume và Thống đốc Gourbeil cắt băng khánh thành để khai giảng khóa học đầu tiên. Nhà trường cũng quyết định chọn màu áo tím làm đồng phục cho nữ sinh. Theo Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương (Annuaire General de l’Indochine), từ 1915 đến 1918 tên của trường là École Primaire de Jeunes Filles Indigènes de Saigon, còn người bản xứ thì gọi là Nữ Học Đường hay Trường Áo Tím. Khóa đầu tiên gồm 42 nữ sinh, tất cả đều cư ngụ ở Sài Gòn và vùng lân cận. Sau này mới có nội trú cho nữ sinh ở xa. Cũng theo các Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương từ năm 1915 đến 1918, Giám Đốc (Directrice) của trường lần lượt gồm những vị sau đây: Niên khóa 1915-1916: Bà Lagrange (Clémence-Marie). Niên khóa 1916-1917: Cô Batisse: (Marie-Antoinette). Niên khóa 1917-1918: Cô Batisse (Marie-Antoinette). Như vậy trong 3 năm đầu tiên trường được lãnh đạo bởi hai vị Giám Đốc, các giáo viên, nhân viên cũng đều là người Pháp. Trong giai đoạn này trường đào tạo bậc Tiểu Học với cả 2 cấp Sơ Học và Tiểu Học. Học sinh lớp Dự Bị (Préparatoire) đã bắt đầu học Pháp Văn. B) Giai đoạn hai từ 1919 đến 1940: Collège de Jeunes Filles Indigènes a)Khởi đầu bậc cao đẳng tiểu học với tên Collège de Jeunes Filles Niên khóa 1918-1919 một dãy nhà lầu mới được xây song song với tòa nhà cũ cho các nữ sinh nội trú và cũng để chuẩn bị cho việc mở thêm các lớp bậc Cao Đẳng Tiểu Học. Phía sau dãy nhà này cũng có thêm dãy nhà trệt dùng làm bệnh thất, phòng giặt, nhà bếp và cũng là nơi giảng dạy các môn nữ công gia chánh. Theo Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương thì năm 1919 trường đã được đổi tên là Collège de Jeunes filles Indigènes và bắt đầu mở thêm các lớp bậc Cao Đẳng Tiểu Học. Khóa học được khai giảng bởi Toàn Quyền Albert Sarraut. Năm 1922 một phiến đá cẩm thạch khắc tên Collège de Jeunes Filles Indigènes được dựng lên trước cổng trường. Thế nhưng người miền Nam vẫn quen gọi là Trường Áo Tím hay Nữ Học Đường. Để được học bậc Cao Đẳng Tiểu Học ở trường Áo Tím, học sinh phải có bằng CEPCI và phải đậu kỳ thi tuyển. Trường cũng có mở lớp Tiếp Liên để giúp các học sinh học luyện để thi lại và có lớp Complémentaire dạy cho các học sinh đã học xong Tiểu Học để ra làm cô giáo. b) Giai đoạn hoàn chỉnh bậc Cao Đẳng Tiểu Học Từ năm 1922 trường đào tạo cả hai bậc Tiểu Học và Cao Đẳng Tiểu Học. Học hết Cao Đẳng Tiểu Học học sinh thi lấy bằng Thành Chung gồm 2 kỳ thi: thi viết tại trường; đậu thi viết sẽ sang trường Petrus Ký thi vấn đáp. Ở bậc Cao Đẳng Tiểu Học tiếng Pháp được dùng làm chuyển ngữ. Ngay cả khi đàm thoại với nhau trong trường các nữ sinh cũng phải nói tiếng Pháp. Mỗi tuần học sinh chỉ học 2 giờ tiếng Việt, và chỉ được nói tiếng Việt trong giờ này. Từ năm 1927 đến năm 1942 nữ giáo sư Saint Marty được bổ làm Hiệu Trường. Tổng Giám Thị lần lượt là: Bà Lagrange, Bà Lambruschini, Bà Boisson, Bà Guiraud. C) Giai đoạn 3 từ 1940 đến 1950: Collège Gia Long a) Collège Gia Long- chấm dứt bậc Tiểu Học Năm 1940 Nha Học Chánh của Pháp đệ trình kiến nghị đổi tên trường thành Collège Gia Long và nghị định đã được Thống Đốc Nam Kỳ Georges Rivoal ký ngày 2/12/194231. Tuy vậy mãi đến năm 1947 trước cổng trường vẫn còn bảng Collège de Jeunes Filles Indigènes. Niên khóa 1940-1941 là khóa cuối cùng trường còn bậc Tiểu Học. Sau đó trường chỉ còn 4 cấp lớp từ năm thứ nhất đến năm thứ tư bậc Cao Đẳng Tiểu Học và vẫn dạy theo chương trình Pháp-Việt. Thời gian này trường vẫn chưa có bậc Trung Học (Ban Tú Tài). Các nữ sinh có bằng Thành Chung muốn học tiếp lên cao thì phải qua Trường Petrus Trương Vĩnh Ký. b) Những biến động lịch sử thời đệ nhị thế chiến và phong trào yêu nước Năm 1940 khuôn viên Collège Gia Long và Petrus Ký bị quân đội Nhật chiếm đóng. Trường Gia Long phải dời về trường tiểu học Đồ Chiểu ở Tân Định, còn Petrus Ký qua trường Normal gần Sở Thú. Đến năm 1944 Gia Long trở về cơ sở cũ còn Petrus Ký phải đến Collège Gia Long học nhờ vì trường Petrus Ký vẫn còn bị trưng dụng. Nhưng chỉ được 1 thời gian ngắn, vì chiến cuộc, trường lại phải tạm đóng cửa đến năm 1947 mới mở lại bình thường. Năm 1950 các nữ sinh hưởng ứng các phong trào chống Pháp, đấu tranh đòi độc lập cho dân tộc và một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Cao điểm là sự kiện Trần Văn Ơn, một học sinh Petrus Ký bị trúng đạn chết trong cuộc biểu tình. Các cuộc đấu tranh này cũng góp phần ảnh hưởng đến sự chuyển đổi chương trình học và cơ cấu hành chánh của trường về sau. D) Giai Ðoạn Cuối 1951-1975: Trường Gia Long và chương trình Việt. 1)1951-55: đổi từ chương trình Pháp-Việt qua chương trình Việt bậc trung học đệ nhất cấp Đầu thập niên 1950, trường bắt đầu chuyển đổi chương trình Pháp-Việt thành chương trình Việt nên trường dạy cả hai chương trình cho đến khi không còn các lớp chương trình Pháp nữa. Vì vậy, bên chương trình Pháp - Việt thì tên trường vẫn là Collège Gia Long, và sau đó là Lycée Gia Long; bên chương trình Việt là Trường Trung Học Gia Long. Tuy vậy, trong vài năm sau bảng hiệu trước cổng trường vẫn còn viết tên cũ “Collège Gia Long” rồi “Lycée Gia Long”. Năm 1956 mới đổi bảng hiệu thành Trường Nữ Trung Học Gia Long. Niên khóa 1952-1953 đồng phục áo tím được đổi thành áo dài trắng về sau chọn thêm huy hiệu bằng thiếc in tên trường và hoa mai vàng trên nền xanh. Nhưng vì kinh tế khó khăn nên không bắt buộc nữ sinh phải mặc đồng phục. Đến thập niên 60, huy hiệu bằng thiếc được thay thế bằng phù hiệu vải với chữ Gia Long màu đỏ, các chữ khác màu xanh dương, may liền trên áo (xem hình phù hiệu đính kèm). Cuối thập niên 1950 áo dài thiên thanh được chọn làm lễ phục cho tất cả các nữ sinh trung học, trong đó có nữ sinh Gia Long, mặc trong những ngày lễ và thứ hai hằng tuần để chào quốc kỳ. Học sinh đậu vào Đệ Thất được mua vải xanh từ trường. Đến giữa thập niên 1960 thì không còn lễ phục nữa. Tất cả nữ sinh đều mặc áo dài trắng. Niên khóa 1951-1952 trường bắt đầu mở lớp Đệ Thất chương trình Việt để thay cho năm thứ nhất bậc Cao Đẳng Tiểu Học (première année) chương trình Pháp-Việt. Cứ thế, mỗi năm dần bỏ các lớp chương trình Pháp-Việt và thay bằng chương trình Việt. Trong giai đoạn đầu chuyển đổi, các lớp Trung Học Đệ Nhất Cấp (từ Đệ Thất đến Đệ Tứ) dùng chuyển ngữ tiếng Việt, nhưng học sinh phải học đồng thời cả hai ngoại ngữ Pháp và Anh. Đến niên khóa 1954-1955 chương trình Việt đã được giảng dạy từ lớp Đệ Thất đến lớp Đệ Tứ, và vào năm 1955 kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp chương trình Việt được tổ chức lần đầu tiên 2) 1955-1975: hoàn chỉnh Trung Học Đệ Nhị Cấp chương trình Việt Sau kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp 1955 trường mở thêm các lớp đệ nhị cấp: niên khóa 1955-56 mở các lớp Đệ Tam, 1956-57 các lớp Đệ Nhị và 1957-58 các lớp Đệ Nhất. Lần đầu tiên các nữ sinh Gia Long dự thi Tú Tài I năm 1957 và Tú Tài II 1958. Như vậy năm 1958 trường Nữ Trung Học Gia Long đã bắt đầu giảng dạy trọn vẹn chương trình trung học Đệ Nhất Cấp và Đệ Nhị Cấp. Những năm đầu chỉ có 3 lớp Đệ Nhất ban A (Sinh Vật) và 1 lớp ban C (Văn Chương, Ngoại Ngữ). Ban B (Toán) phải qua trường Petrus Ký học43. Đến năm 1961 trường mới có đủ ba ban A, B, C. Khi đã có cả Đệ Nhất cấp và Đệ Nhị Cấp các lớp từ Đệ Thất đến Đệ Ngũ (lớp 6 đến lớp 8) học buổi chiều; các lớp từ Đệ Tứ đến Đệ Nhất (lớp 9 đến lớp 12) học buổi sáng. Tổng cộng trường có gần 100 lớp. Năm 1964 trường không còn nhận học sinh nội trú nữa. Niên khóa cuối cùng 1974-75 có hơn 5000 ngàn học sinh. Mỗi cấp lớp từ Đệ Thất đến Đệ Tứ đểu có 15 lớp; từ Đệ Tam đến Đệ Nhất có 14 lớp gồm 9 lớp ban A, 3 lớp ban B và 2 lớp ban C. Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ học 1 ngoại ngữ Anh hoặc Pháp. Bắt đầu lớp Đệ Tam, học sinh phải học thêm 1 ngoại ngữ phụ và có thể chọn Anh Văn, Pháp Văn hay Đức Ngữ. Các nữ sinh đạt được thứ hạng Bình, Ưu hay Tối Ưu trong hai kỳ thi Tú Tài I và II sẽ được nhà trường ban tặng medaille Hoa Mai Vàng Gia Long (xem hình Hoa Mai đính kèm). Truyền thống tốt đẹp và độc đáo này chỉ có ở Trường Nữ Trung Học Gia Long mà thôi. Năm 1969, theo yêu cầu của Bộ Giáo Dục và Bộ Xã Hội trường mở hệ bán công ban đêm, thu học phí rất thấp. Phù hiệu của học sinh Gia Long đêm giống phù hiệu Gia Long ngày, nhưng tất cả các chữ và hoa mai trên phù hiệu được thêu màu xanh lá cây nhạt. Hệ bán công chấm dứt năm 1975. 2) Ban Giám Đốc trong giai đoạn cuối từ 1950 đến 1975 Niên khóa 1950-1951, giáo sư môn sử địa của trường, cũng là một cựu nữ sinh Áo Tím, Cô Nguyễn Thị Châu là người Việt đầu tiên được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng trường Gia Long. Trong suốt giai đoạn cuối Ban Giám Đốc trường ngoài Hiệu Trưởng còn có Giám Học và Tổng Giám Thị (đặc trách buổi sáng); Phụ Tá Giám Học và Phụ Tá Tổng Giám Thị (đặc trách buổi chiều). Từ năm 1952 đến năm 1975 Ban Giám Đốc trường lần lượt như sau: 1952-1963: Hiệu Trưởng: Bà Huỳnh Hữu Hội Giám Học: đầu tiên là Bà Nguyễn Như Hằng, sau là Bà Nhan Tú Quyên Phụ Tá Giám Học: Bà Kha Thị Huỡn Tổng Giám Thị: Đầu tiên là Bà Lưu Thị Dậu, sau đó là Bà Emilie Võ Thành (tức Võ Thành Duyên) và cuối cùng là Bà Trần Thị Sách Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Sương. 1963-1964: Hiệu Trưởng: Bà Nguyễn Thu Ba Giám Học: Bà Trần Thị Tỵ Phụ Tá Giám Học: Cô Đặng Thị Ngọc Tổng Giám Thị và Phụ Tá: Bà Trần thị Sách và Bà Nguyễn thị Sương. 1964-1965: Hiệu Trưởng: Bà Trần Thị Khuê; Giám Học, Phụ Tá Giám Học; Tổng Giám Thị, Phụ Tá Tổng Giám Thị: như thời HT Nguyễn Thu Ba. 1965-1969: Hiệu Trưởng: Cô Trần Thị Tỵ Giám học: Bà Trần Thị Kỳ Phụ Tá Giám Học: Bà Nguyễn Ngọc Anh Tổng Giám Thị: Bà Lê Kim Lan Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Tám. Năm 1969 Bà Bùi Thị Lắm lên làm Hiệu Trưởng trong 3 tháng. 1969-1975: Hiệu Trưởng: Bà Phạm Văn Tất (Khuê danh Võ Bạch Cúc). Giám học: Bà Huỳnh Thanh Nhạn Phụ Tá Giám Học: Bà Nguyễn Ngọc Anh Tổng Giám Thị: Đầu tiên là Bà Đoàn Nguyệt Thu; 1 năm sau đến Bà Kha Thị Huỡn, đến giữa niên khóa 74-75 Bà Lâm Thị Nguyệt thay thế Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Tám, năm 1973 đến Bà Lâm Xíu Ngó. Khối Gia Long đêm từ năm 1969 đến năm 1975 Hiệu trưởng: Bà Phạm Văn Tất Giám Học: Bà Huỳnh Thanh Nhạn Phụ tá Giám Học: Bà Khưu Quỳnh Hương Tổng Giám Thị: đầu tiên là Bà Nguyễn Thị Tám; sau đó là Bà Trần Ngọc Anh. “Từ năm 1975, trường đã bị đổi tên nhưng với tất cả chúng ta trường vẫn là trường Gia Long yêu quý. Cũng như Sài Gòn vẫn mãi mãi là Sài Gòn, trong trái tim, trong nguồn nhớ không nguôi”. Sydney tháng 4 năm 2013. Dương Thanh-Bình GL75 webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:NNWrSIQrLFo...
Trường Trung Học Nữ Sinh Bản Xứ (sau này là Nữ Trung Học Gia Long) Collège de Jeunes Filles Indigènes - Saigon 1920s. Lược Sử Trường Áo Tím-Gia Long . . . Trường Áo Tím-Gia Long trong các giai đoạn lịch sử A) Giai đoạn một 1915-1918: École Primaire de Jeunes Filles Indigènes Mặc dù quyết định thành lập trường đã được chấp nhận từ năm 1909, thời toàn quyền Klobukowski, nhưng thiếu kinh phí nên mãi đến năm 1913 trường mới bắt đầu được xây dựng. Ngày 6/11/1913 Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương Albert Sarraut đã chủ tọa lễ đặt viên đá đầu tiên16. Dãy nhà thứ nhất được xây trên khu đất rộng ở đại lộ Legrand de la Liraye, tức đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn (nay là Điện Biên Phủ). Nhiều vật liệu xây dựng được chở từ Pháp, chẳng hạn mỗi viên ngói cũ còn chữ "Marseille" in bên trong. Ngày 19/10/1915 toàn quyền Đông Dương Ernest Nestor Roume và Thống đốc Gourbeil cắt băng khánh thành để khai giảng khóa học đầu tiên. Nhà trường cũng quyết định chọn màu áo tím làm đồng phục cho nữ sinh. Theo Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương (Annuaire General de l’Indochine), từ 1915 đến 1918 tên của trường là École Primaire de Jeunes Filles Indigènes de Saigon, còn người bản xứ thì gọi là Nữ Học Đường hay Trường Áo Tím. Khóa đầu tiên gồm 42 nữ sinh, tất cả đều cư ngụ ở Sài Gòn và vùng lân cận. Sau này mới có nội trú cho nữ sinh ở xa. Cũng theo các Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương từ năm 1915 đến 1918, Giám Đốc (Directrice) của trường lần lượt gồm những vị sau đây: Niên khóa 1915-1916: Bà Lagrange (Clémence-Marie). Niên khóa 1916-1917: Cô Batisse: (Marie-Antoinette). Niên khóa 1917-1918: Cô Batisse (Marie-Antoinette). Như vậy trong 3 năm đầu tiên trường được lãnh đạo bởi hai vị Giám Đốc, các giáo viên, nhân viên cũng đều là người Pháp. Trong giai đoạn này trường đào tạo bậc Tiểu Học với cả 2 cấp Sơ Học và Tiểu Học. Học sinh lớp Dự Bị (Préparatoire) đã bắt đầu học Pháp Văn. B) Giai đoạn hai từ 1919 đến 1940: Collège de Jeunes Filles Indigènes a)Khởi đầu bậc cao đẳng tiểu học với tên Collège de Jeunes Filles Niên khóa 1918-1919 một dãy nhà lầu mới được xây song song với tòa nhà cũ cho các nữ sinh nội trú và cũng để chuẩn bị cho việc mở thêm các lớp bậc Cao Đẳng Tiểu Học. Phía sau dãy nhà này cũng có thêm dãy nhà trệt dùng làm bệnh thất, phòng giặt, nhà bếp và cũng là nơi giảng dạy các môn nữ công gia chánh. Theo Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương thì năm 1919 trường đã được đổi tên là Collège de Jeunes filles Indigènes và bắt đầu mở thêm các lớp bậc Cao Đẳng Tiểu Học. Khóa học được khai giảng bởi Toàn Quyền Albert Sarraut. Năm 1922 một phiến đá cẩm thạch khắc tên Collège de Jeunes Filles Indigènes được dựng lên trước cổng trường. Thế nhưng người miền Nam vẫn quen gọi là Trường Áo Tím hay Nữ Học Đường. Để được học bậc Cao Đẳng Tiểu Học ở trường Áo Tím, học sinh phải có bằng CEPCI và phải đậu kỳ thi tuyển. Trường cũng có mở lớp Tiếp Liên để giúp các học sinh học luyện để thi lại và có lớp Complémentaire dạy cho các học sinh đã học xong Tiểu Học để ra làm cô giáo. b) Giai đoạn hoàn chỉnh bậc Cao Đẳng Tiểu Học Từ năm 1922 trường đào tạo cả hai bậc Tiểu Học và Cao Đẳng Tiểu Học. Học hết Cao Đẳng Tiểu Học học sinh thi lấy bằng Thành Chung gồm 2 kỳ thi: thi viết tại trường; đậu thi viết sẽ sang trường Petrus Ký thi vấn đáp. Ở bậc Cao Đẳng Tiểu Học tiếng Pháp được dùng làm chuyển ngữ. Ngay cả khi đàm thoại với nhau trong trường các nữ sinh cũng phải nói tiếng Pháp. Mỗi tuần học sinh chỉ học 2 giờ tiếng Việt, và chỉ được nói tiếng Việt trong giờ này. Từ năm 1927 đến năm 1942 nữ giáo sư Saint Marty được bổ làm Hiệu Trường. Tổng Giám Thị lần lượt là: Bà Lagrange, Bà Lambruschini, Bà Boisson, Bà Guiraud. C) Giai đoạn 3 từ 1940 đến 1950: Collège Gia Long a) Collège Gia Long- chấm dứt bậc Tiểu Học Năm 1940 Nha Học Chánh của Pháp đệ trình kiến nghị đổi tên trường thành Collège Gia Long và nghị định đã được Thống Đốc Nam Kỳ Georges Rivoal ký ngày 2/12/194231. Tuy vậy mãi đến năm 1947 trước cổng trường vẫn còn bảng Collège de Jeunes Filles Indigènes. Niên khóa 1940-1941 là khóa cuối cùng trường còn bậc Tiểu Học. Sau đó trường chỉ còn 4 cấp lớp từ năm thứ nhất đến năm thứ tư bậc Cao Đẳng Tiểu Học và vẫn dạy theo chương trình Pháp-Việt. Thời gian này trường vẫn chưa có bậc Trung Học (Ban Tú Tài). Các nữ sinh có bằng Thành Chung muốn học tiếp lên cao thì phải qua Trường Petrus Trương Vĩnh Ký. b) Những biến động lịch sử thời đệ nhị thế chiến và phong trào yêu nước Năm 1940 khuôn viên Collège Gia Long và Petrus Ký bị quân đội Nhật chiếm đóng. Trường Gia Long phải dời về trường tiểu học Đồ Chiểu ở Tân Định, còn Petrus Ký qua trường Normal gần Sở Thú. Đến năm 1944 Gia Long trở về cơ sở cũ còn Petrus Ký phải đến Collège Gia Long học nhờ vì trường Petrus Ký vẫn còn bị trưng dụng. Nhưng chỉ được 1 thời gian ngắn, vì chiến cuộc, trường lại phải tạm đóng cửa đến năm 1947 mới mở lại bình thường. Năm 1950 các nữ sinh hưởng ứng các phong trào chống Pháp, đấu tranh đòi độc lập cho dân tộc và một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Cao điểm là sự kiện Trần Văn Ơn, một học sinh Petrus Ký bị trúng đạn chết trong cuộc biểu tình. Các cuộc đấu tranh này cũng góp phần ảnh hưởng đến sự chuyển đổi chương trình học và cơ cấu hành chánh của trường về sau. D) Giai Ðoạn Cuối 1951-1975: Trường Gia Long và chương trình Việt. 1)1951-55: đổi từ chương trình Pháp-Việt qua chương trình Việt bậc trung học đệ nhất cấp Đầu thập niên 1950, trường bắt đầu chuyển đổi chương trình Pháp-Việt thành chương trình Việt nên trường dạy cả hai chương trình cho đến khi không còn các lớp chương trình Pháp nữa. Vì vậy, bên chương trình Pháp - Việt thì tên trường vẫn là Collège Gia Long, và sau đó là Lycée Gia Long; bên chương trình Việt là Trường Trung Học Gia Long. Tuy vậy, trong vài năm sau bảng hiệu trước cổng trường vẫn còn viết tên cũ “Collège Gia Long” rồi “Lycée Gia Long”. Năm 1956 mới đổi bảng hiệu thành Trường Nữ Trung Học Gia Long. Niên khóa 1952-1953 đồng phục áo tím được đổi thành áo dài trắng về sau chọn thêm huy hiệu bằng thiếc in tên trường và hoa mai vàng trên nền xanh. Nhưng vì kinh tế khó khăn nên không bắt buộc nữ sinh phải mặc đồng phục. Đến thập niên 60, huy hiệu bằng thiếc được thay thế bằng phù hiệu vải với chữ Gia Long màu đỏ, các chữ khác màu xanh dương, may liền trên áo (xem hình phù hiệu đính kèm). Cuối thập niên 1950 áo dài thiên thanh được chọn làm lễ phục cho tất cả các nữ sinh trung học, trong đó có nữ sinh Gia Long, mặc trong những ngày lễ và thứ hai hằng tuần để chào quốc kỳ. Học sinh đậu vào Đệ Thất được mua vải xanh từ trường. Đến giữa thập niên 1960 thì không còn lễ phục nữa. Tất cả nữ sinh đều mặc áo dài trắng. Niên khóa 1951-1952 trường bắt đầu mở lớp Đệ Thất chương trình Việt để thay cho năm thứ nhất bậc Cao Đẳng Tiểu Học (première année) chương trình Pháp-Việt. Cứ thế, mỗi năm dần bỏ các lớp chương trình Pháp-Việt và thay bằng chương trình Việt. Trong giai đoạn đầu chuyển đổi, các lớp Trung Học Đệ Nhất Cấp (từ Đệ Thất đến Đệ Tứ) dùng chuyển ngữ tiếng Việt, nhưng học sinh phải học đồng thời cả hai ngoại ngữ Pháp và Anh. Đến niên khóa 1954-1955 chương trình Việt đã được giảng dạy từ lớp Đệ Thất đến lớp Đệ Tứ, và vào năm 1955 kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp chương trình Việt được tổ chức lần đầu tiên 2) 1955-1975: hoàn chỉnh Trung Học Đệ Nhị Cấp chương trình Việt Sau kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp 1955 trường mở thêm các lớp đệ nhị cấp: niên khóa 1955-56 mở các lớp Đệ Tam, 1956-57 các lớp Đệ Nhị và 1957-58 các lớp Đệ Nhất. Lần đầu tiên các nữ sinh Gia Long dự thi Tú Tài I năm 1957 và Tú Tài II 1958. Như vậy năm 1958 trường Nữ Trung Học Gia Long đã bắt đầu giảng dạy trọn vẹn chương trình trung học Đệ Nhất Cấp và Đệ Nhị Cấp. Những năm đầu chỉ có 3 lớp Đệ Nhất ban A (Sinh Vật) và 1 lớp ban C (Văn Chương, Ngoại Ngữ). Ban B (Toán) phải qua trường Petrus Ký học43. Đến năm 1961 trường mới có đủ ba ban A, B, C. Khi đã có cả Đệ Nhất cấp và Đệ Nhị Cấp các lớp từ Đệ Thất đến Đệ Ngũ (lớp 6 đến lớp 8) học buổi chiều; các lớp từ Đệ Tứ đến Đệ Nhất (lớp 9 đến lớp 12) học buổi sáng. Tổng cộng trường có gần 100 lớp. Năm 1964 trường không còn nhận học sinh nội trú nữa. Niên khóa cuối cùng 1974-75 có hơn 5000 ngàn học sinh. Mỗi cấp lớp từ Đệ Thất đến Đệ Tứ đểu có 15 lớp; từ Đệ Tam đến Đệ Nhất có 14 lớp gồm 9 lớp ban A, 3 lớp ban B và 2 lớp ban C. Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ học 1 ngoại ngữ Anh hoặc Pháp. Bắt đầu lớp Đệ Tam, học sinh phải học thêm 1 ngoại ngữ phụ và có thể chọn Anh Văn, Pháp Văn hay Đức Ngữ. Các nữ sinh đạt được thứ hạng Bình, Ưu hay Tối Ưu trong hai kỳ thi Tú Tài I và II sẽ được nhà trường ban tặng medaille Hoa Mai Vàng Gia Long (xem hình Hoa Mai đính kèm). Truyền thống tốt đẹp và độc đáo này chỉ có ở Trường Nữ Trung Học Gia Long mà thôi. Năm 1969, theo yêu cầu của Bộ Giáo Dục và Bộ Xã Hội trường mở hệ bán công ban đêm, thu học phí rất thấp. Phù hiệu của học sinh Gia Long đêm giống phù hiệu Gia Long ngày, nhưng tất cả các chữ và hoa mai trên phù hiệu được thêu màu xanh lá cây nhạt. Hệ bán công chấm dứt năm 1975. 2) Ban Giám Đốc trong giai đoạn cuối từ 1950 đến 1975 Niên khóa 1950-1951, giáo sư môn sử địa của trường, cũng là một cựu nữ sinh Áo Tím, Cô Nguyễn Thị Châu là người Việt đầu tiên được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng trường Gia Long. Trong suốt giai đoạn cuối Ban Giám Đốc trường ngoài Hiệu Trưởng còn có Giám Học và Tổng Giám Thị (đặc trách buổi sáng); Phụ Tá Giám Học và Phụ Tá Tổng Giám Thị (đặc trách buổi chiều). Từ năm 1952 đến năm 1975 Ban Giám Đốc trường lần lượt như sau: 1952-1963: Hiệu Trưởng: Bà Huỳnh Hữu Hội Giám Học: đầu tiên là Bà Nguyễn Như Hằng, sau là Bà Nhan Tú Quyên Phụ Tá Giám Học: Bà Kha Thị Huỡn Tổng Giám Thị: Đầu tiên là Bà Lưu Thị Dậu, sau đó là Bà Emilie Võ Thành (tức Võ Thành Duyên) và cuối cùng là Bà Trần Thị Sách Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Sương. 1963-1964: Hiệu Trưởng: Bà Nguyễn Thu Ba Giám Học: Bà Trần Thị Tỵ Phụ Tá Giám Học: Cô Đặng Thị Ngọc Tổng Giám Thị và Phụ Tá: Bà Trần thị Sách và Bà Nguyễn thị Sương. 1964-1965: Hiệu Trưởng: Bà Trần Thị Khuê; Giám Học, Phụ Tá Giám Học; Tổng Giám Thị, Phụ Tá Tổng Giám Thị: như thời HT Nguyễn Thu Ba. 1965-1969: Hiệu Trưởng: Cô Trần Thị Tỵ Giám học: Bà Trần Thị Kỳ Phụ Tá Giám Học: Bà Nguyễn Ngọc Anh Tổng Giám Thị: Bà Lê Kim Lan Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Tám. Năm 1969 Bà Bùi Thị Lắm lên làm Hiệu Trưởng trong 3 tháng. 1969-1975: Hiệu Trưởng: Bà Phạm Văn Tất (Khuê danh Võ Bạch Cúc). Giám học: Bà Huỳnh Thanh Nhạn Phụ Tá Giám Học: Bà Nguyễn Ngọc Anh Tổng Giám Thị: Đầu tiên là Bà Đoàn Nguyệt Thu; 1 năm sau đến Bà Kha Thị Huỡn, đến giữa niên khóa 74-75 Bà Lâm Thị Nguyệt thay thế Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Tám, năm 1973 đến Bà Lâm Xíu Ngó. Khối Gia Long đêm từ năm 1969 đến năm 1975 Hiệu trưởng: Bà Phạm Văn Tất Giám Học: Bà Huỳnh Thanh Nhạn Phụ tá Giám Học: Bà Khưu Quỳnh Hương Tổng Giám Thị: đầu tiên là Bà Nguyễn Thị Tám; sau đó là Bà Trần Ngọc Anh. “Từ năm 1975, trường đã bị đổi tên nhưng với tất cả chúng ta trường vẫn là trường Gia Long yêu quý. Cũng như Sài Gòn vẫn mãi mãi là Sài Gòn, trong trái tim, trong nguồn nhớ không nguôi”. Sydney tháng 4 năm 2013. Dương Thanh-Bình GL75 webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:NNWrSIQrLFo...
Trường Trung Học Nữ Sinh Bản Xứ (sau này là Nữ Trung Học Gia Long) Collège de Jeunes Filles Indigènes - Saigon 1920s. Lược Sử Trường Áo Tím-Gia Long . . . Trường Áo Tím-Gia Long trong các giai đoạn lịch sử A) Giai đoạn một 1915-1918: École Primaire de Jeunes Filles Indigènes Mặc dù quyết định thành lập trường đã được chấp nhận từ năm 1909, thời toàn quyền Klobukowski, nhưng thiếu kinh phí nên mãi đến năm 1913 trường mới bắt đầu được xây dựng. Ngày 6/11/1913 Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương Albert Sarraut đã chủ tọa lễ đặt viên đá đầu tiên16. Dãy nhà thứ nhất được xây trên khu đất rộng ở đại lộ Legrand de la Liraye, tức đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn (nay là Điện Biên Phủ). Nhiều vật liệu xây dựng được chở từ Pháp, chẳng hạn mỗi viên ngói cũ còn chữ "Marseille" in bên trong. Ngày 19/10/1915 toàn quyền Đông Dương Ernest Nestor Roume và Thống đốc Gourbeil cắt băng khánh thành để khai giảng khóa học đầu tiên. Nhà trường cũng quyết định chọn màu áo tím làm đồng phục cho nữ sinh. Theo Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương (Annuaire General de l’Indochine), từ 1915 đến 1918 tên của trường là École Primaire de Jeunes Filles Indigènes de Saigon, còn người bản xứ thì gọi là Nữ Học Đường hay Trường Áo Tím. Khóa đầu tiên gồm 42 nữ sinh, tất cả đều cư ngụ ở Sài Gòn và vùng lân cận. Sau này mới có nội trú cho nữ sinh ở xa. Cũng theo các Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương từ năm 1915 đến 1918, Giám Đốc (Directrice) của trường lần lượt gồm những vị sau đây: Niên khóa 1915-1916: Bà Lagrange (Clémence-Marie). Niên khóa 1916-1917: Cô Batisse: (Marie-Antoinette). Niên khóa 1917-1918: Cô Batisse (Marie-Antoinette). Như vậy trong 3 năm đầu tiên trường được lãnh đạo bởi hai vị Giám Đốc, các giáo viên, nhân viên cũng đều là người Pháp. Trong giai đoạn này trường đào tạo bậc Tiểu Học với cả 2 cấp Sơ Học và Tiểu Học. Học sinh lớp Dự Bị (Préparatoire) đã bắt đầu học Pháp Văn. B) Giai đoạn hai từ 1919 đến 1940: Collège de Jeunes Filles Indigènes a)Khởi đầu bậc cao đẳng tiểu học với tên Collège de Jeunes Filles Niên khóa 1918-1919 một dãy nhà lầu mới được xây song song với tòa nhà cũ cho các nữ sinh nội trú và cũng để chuẩn bị cho việc mở thêm các lớp bậc Cao Đẳng Tiểu Học. Phía sau dãy nhà này cũng có thêm dãy nhà trệt dùng làm bệnh thất, phòng giặt, nhà bếp và cũng là nơi giảng dạy các môn nữ công gia chánh. Theo Niên Giám Tổng Quát Hằng Năm của Đông Dương thì năm 1919 trường đã được đổi tên là Collège de Jeunes filles Indigènes và bắt đầu mở thêm các lớp bậc Cao Đẳng Tiểu Học. Khóa học được khai giảng bởi Toàn Quyền Albert Sarraut. Năm 1922 một phiến đá cẩm thạch khắc tên Collège de Jeunes Filles Indigènes được dựng lên trước cổng trường. Thế nhưng người miền Nam vẫn quen gọi là Trường Áo Tím hay Nữ Học Đường. Để được học bậc Cao Đẳng Tiểu Học ở trường Áo Tím, học sinh phải có bằng CEPCI và phải đậu kỳ thi tuyển. Trường cũng có mở lớp Tiếp Liên để giúp các học sinh học luyện để thi lại và có lớp Complémentaire dạy cho các học sinh đã học xong Tiểu Học để ra làm cô giáo. b) Giai đoạn hoàn chỉnh bậc Cao Đẳng Tiểu Học Từ năm 1922 trường đào tạo cả hai bậc Tiểu Học và Cao Đẳng Tiểu Học. Học hết Cao Đẳng Tiểu Học học sinh thi lấy bằng Thành Chung gồm 2 kỳ thi: thi viết tại trường; đậu thi viết sẽ sang trường Petrus Ký thi vấn đáp. Ở bậc Cao Đẳng Tiểu Học tiếng Pháp được dùng làm chuyển ngữ. Ngay cả khi đàm thoại với nhau trong trường các nữ sinh cũng phải nói tiếng Pháp. Mỗi tuần học sinh chỉ học 2 giờ tiếng Việt, và chỉ được nói tiếng Việt trong giờ này. Từ năm 1927 đến năm 1942 nữ giáo sư Saint Marty được bổ làm Hiệu Trường. Tổng Giám Thị lần lượt là: Bà Lagrange, Bà Lambruschini, Bà Boisson, Bà Guiraud. C) Giai đoạn 3 từ 1940 đến 1950: Collège Gia Long a) Collège Gia Long- chấm dứt bậc Tiểu Học Năm 1940 Nha Học Chánh của Pháp đệ trình kiến nghị đổi tên trường thành Collège Gia Long và nghị định đã được Thống Đốc Nam Kỳ Georges Rivoal ký ngày 2/12/194231. Tuy vậy mãi đến năm 1947 trước cổng trường vẫn còn bảng Collège de Jeunes Filles Indigènes. Niên khóa 1940-1941 là khóa cuối cùng trường còn bậc Tiểu Học. Sau đó trường chỉ còn 4 cấp lớp từ năm thứ nhất đến năm thứ tư bậc Cao Đẳng Tiểu Học và vẫn dạy theo chương trình Pháp-Việt. Thời gian này trường vẫn chưa có bậc Trung Học (Ban Tú Tài). Các nữ sinh có bằng Thành Chung muốn học tiếp lên cao thì phải qua Trường Petrus Trương Vĩnh Ký. b) Những biến động lịch sử thời đệ nhị thế chiến và phong trào yêu nước Năm 1940 khuôn viên Collège Gia Long và Petrus Ký bị quân đội Nhật chiếm đóng. Trường Gia Long phải dời về trường tiểu học Đồ Chiểu ở Tân Định, còn Petrus Ký qua trường Normal gần Sở Thú. Đến năm 1944 Gia Long trở về cơ sở cũ còn Petrus Ký phải đến Collège Gia Long học nhờ vì trường Petrus Ký vẫn còn bị trưng dụng. Nhưng chỉ được 1 thời gian ngắn, vì chiến cuộc, trường lại phải tạm đóng cửa đến năm 1947 mới mở lại bình thường. Năm 1950 các nữ sinh hưởng ứng các phong trào chống Pháp, đấu tranh đòi độc lập cho dân tộc và một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Cao điểm là sự kiện Trần Văn Ơn, một học sinh Petrus Ký bị trúng đạn chết trong cuộc biểu tình. Các cuộc đấu tranh này cũng góp phần ảnh hưởng đến sự chuyển đổi chương trình học và cơ cấu hành chánh của trường về sau. D) Giai Ðoạn Cuối 1951-1975: Trường Gia Long và chương trình Việt. 1)1951-55: đổi từ chương trình Pháp-Việt qua chương trình Việt bậc trung học đệ nhất cấp Đầu thập niên 1950, trường bắt đầu chuyển đổi chương trình Pháp-Việt thành chương trình Việt nên trường dạy cả hai chương trình cho đến khi không còn các lớp chương trình Pháp nữa. Vì vậy, bên chương trình Pháp - Việt thì tên trường vẫn là Collège Gia Long, và sau đó là Lycée Gia Long; bên chương trình Việt là Trường Trung Học Gia Long. Tuy vậy, trong vài năm sau bảng hiệu trước cổng trường vẫn còn viết tên cũ “Collège Gia Long” rồi “Lycée Gia Long”. Năm 1956 mới đổi bảng hiệu thành Trường Nữ Trung Học Gia Long. Niên khóa 1952-1953 đồng phục áo tím được đổi thành áo dài trắng về sau chọn thêm huy hiệu bằng thiếc in tên trường và hoa mai vàng trên nền xanh. Nhưng vì kinh tế khó khăn nên không bắt buộc nữ sinh phải mặc đồng phục. Đến thập niên 60, huy hiệu bằng thiếc được thay thế bằng phù hiệu vải với chữ Gia Long màu đỏ, các chữ khác màu xanh dương, may liền trên áo (xem hình phù hiệu đính kèm). Cuối thập niên 1950 áo dài thiên thanh được chọn làm lễ phục cho tất cả các nữ sinh trung học, trong đó có nữ sinh Gia Long, mặc trong những ngày lễ và thứ hai hằng tuần để chào quốc kỳ. Học sinh đậu vào Đệ Thất được mua vải xanh từ trường. Đến giữa thập niên 1960 thì không còn lễ phục nữa. Tất cả nữ sinh đều mặc áo dài trắng. Niên khóa 1951-1952 trường bắt đầu mở lớp Đệ Thất chương trình Việt để thay cho năm thứ nhất bậc Cao Đẳng Tiểu Học (première année) chương trình Pháp-Việt. Cứ thế, mỗi năm dần bỏ các lớp chương trình Pháp-Việt và thay bằng chương trình Việt. Trong giai đoạn đầu chuyển đổi, các lớp Trung Học Đệ Nhất Cấp (từ Đệ Thất đến Đệ Tứ) dùng chuyển ngữ tiếng Việt, nhưng học sinh phải học đồng thời cả hai ngoại ngữ Pháp và Anh. Đến niên khóa 1954-1955 chương trình Việt đã được giảng dạy từ lớp Đệ Thất đến lớp Đệ Tứ, và vào năm 1955 kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp chương trình Việt được tổ chức lần đầu tiên 2) 1955-1975: hoàn chỉnh Trung Học Đệ Nhị Cấp chương trình Việt Sau kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp 1955 trường mở thêm các lớp đệ nhị cấp: niên khóa 1955-56 mở các lớp Đệ Tam, 1956-57 các lớp Đệ Nhị và 1957-58 các lớp Đệ Nhất. Lần đầu tiên các nữ sinh Gia Long dự thi Tú Tài I năm 1957 và Tú Tài II 1958. Như vậy năm 1958 trường Nữ Trung Học Gia Long đã bắt đầu giảng dạy trọn vẹn chương trình trung học Đệ Nhất Cấp và Đệ Nhị Cấp. Những năm đầu chỉ có 3 lớp Đệ Nhất ban A (Sinh Vật) và 1 lớp ban C (Văn Chương, Ngoại Ngữ). Ban B (Toán) phải qua trường Petrus Ký học43. Đến năm 1961 trường mới có đủ ba ban A, B, C. Khi đã có cả Đệ Nhất cấp và Đệ Nhị Cấp các lớp từ Đệ Thất đến Đệ Ngũ (lớp 6 đến lớp 8) học buổi chiều; các lớp từ Đệ Tứ đến Đệ Nhất (lớp 9 đến lớp 12) học buổi sáng. Tổng cộng trường có gần 100 lớp. Năm 1964 trường không còn nhận học sinh nội trú nữa. Niên khóa cuối cùng 1974-75 có hơn 5000 ngàn học sinh. Mỗi cấp lớp từ Đệ Thất đến Đệ Tứ đểu có 15 lớp; từ Đệ Tam đến Đệ Nhất có 14 lớp gồm 9 lớp ban A, 3 lớp ban B và 2 lớp ban C. Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ học 1 ngoại ngữ Anh hoặc Pháp. Bắt đầu lớp Đệ Tam, học sinh phải học thêm 1 ngoại ngữ phụ và có thể chọn Anh Văn, Pháp Văn hay Đức Ngữ. Các nữ sinh đạt được thứ hạng Bình, Ưu hay Tối Ưu trong hai kỳ thi Tú Tài I và II sẽ được nhà trường ban tặng medaille Hoa Mai Vàng Gia Long (xem hình Hoa Mai đính kèm). Truyền thống tốt đẹp và độc đáo này chỉ có ở Trường Nữ Trung Học Gia Long mà thôi. Năm 1969, theo yêu cầu của Bộ Giáo Dục và Bộ Xã Hội trường mở hệ bán công ban đêm, thu học phí rất thấp. Phù hiệu của học sinh Gia Long đêm giống phù hiệu Gia Long ngày, nhưng tất cả các chữ và hoa mai trên phù hiệu được thêu màu xanh lá cây nhạt. Hệ bán công chấm dứt năm 1975. 2) Ban Giám Đốc trong giai đoạn cuối từ 1950 đến 1975 Niên khóa 1950-1951, giáo sư môn sử địa của trường, cũng là một cựu nữ sinh Áo Tím, Cô Nguyễn Thị Châu là người Việt đầu tiên được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng trường Gia Long. Trong suốt giai đoạn cuối Ban Giám Đốc trường ngoài Hiệu Trưởng còn có Giám Học và Tổng Giám Thị (đặc trách buổi sáng); Phụ Tá Giám Học và Phụ Tá Tổng Giám Thị (đặc trách buổi chiều). Từ năm 1952 đến năm 1975 Ban Giám Đốc trường lần lượt như sau: 1952-1963: Hiệu Trưởng: Bà Huỳnh Hữu Hội Giám Học: đầu tiên là Bà Nguyễn Như Hằng, sau là Bà Nhan Tú Quyên Phụ Tá Giám Học: Bà Kha Thị Huỡn Tổng Giám Thị: Đầu tiên là Bà Lưu Thị Dậu, sau đó là Bà Emilie Võ Thành (tức Võ Thành Duyên) và cuối cùng là Bà Trần Thị Sách Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Sương. 1963-1964: Hiệu Trưởng: Bà Nguyễn Thu Ba Giám Học: Bà Trần Thị Tỵ Phụ Tá Giám Học: Cô Đặng Thị Ngọc Tổng Giám Thị và Phụ Tá: Bà Trần thị Sách và Bà Nguyễn thị Sương. 1964-1965: Hiệu Trưởng: Bà Trần Thị Khuê; Giám Học, Phụ Tá Giám Học; Tổng Giám Thị, Phụ Tá Tổng Giám Thị: như thời HT Nguyễn Thu Ba. 1965-1969: Hiệu Trưởng: Cô Trần Thị Tỵ Giám học: Bà Trần Thị Kỳ Phụ Tá Giám Học: Bà Nguyễn Ngọc Anh Tổng Giám Thị: Bà Lê Kim Lan Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Tám. Năm 1969 Bà Bùi Thị Lắm lên làm Hiệu Trưởng trong 3 tháng. 1969-1975: Hiệu Trưởng: Bà Phạm Văn Tất (Khuê danh Võ Bạch Cúc). Giám học: Bà Huỳnh Thanh Nhạn Phụ Tá Giám Học: Bà Nguyễn Ngọc Anh Tổng Giám Thị: Đầu tiên là Bà Đoàn Nguyệt Thu; 1 năm sau đến Bà Kha Thị Huỡn, đến giữa niên khóa 74-75 Bà Lâm Thị Nguyệt thay thế Phụ Tá Tổng Giám Thị: Bà Nguyễn Thị Tám, năm 1973 đến Bà Lâm Xíu Ngó. Khối Gia Long đêm từ năm 1969 đến năm 1975 Hiệu trưởng: Bà Phạm Văn Tất Giám Học: Bà Huỳnh Thanh Nhạn Phụ tá Giám Học: Bà Khưu Quỳnh Hương Tổng Giám Thị: đầu tiên là Bà Nguyễn Thị Tám; sau đó là Bà Trần Ngọc Anh. “Từ năm 1975, trường đã bị đổi tên nhưng với tất cả chúng ta trường vẫn là trường Gia Long yêu quý. Cũng như Sài Gòn vẫn mãi mãi là Sài Gòn, trong trái tim, trong nguồn nhớ không nguôi”. Sydney tháng 4 năm 2013. Dương Thanh-Bình GL75 webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:NNWrSIQrLFo...


 Trường Nữ Trung Học Gia Long - SAIGON 1966     by Douglas Ross
Trường Nữ Trung Học Gia Long - SAIGON 1966 by Douglas Ross
 Trường Nữ Trung Học Gia Long
Trường Nữ Trung Học Gia Long
 Trường Gia Long đang mùa Bầu Cử
Trường Gia Long đang mùa Bầu Cử
 Nữ Sinh Gia Long
Nữ Sinh Gia Long


 Trường Trưng Vương trong Ngày Truyền Thống.
Trường Trưng Vương trong Ngày Truyền Thống.
 Trường Trưng Vương trong Ngày Truyền Thống.
Trường Trưng Vương trong Ngày Truyền Thống.
 Bà Hiệu trưởng Tuyết và các giáo sư cùng quan khách trên bộ Giáo Dục tới dự lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương
Bà Hiệu trưởng Tuyết và các giáo sư cùng quan khách trên bộ Giáo Dục tới dự lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương
 Nữ Sinh Trưng Vương 1974
Nữ Sinh Trưng Vương 1974
 Nữ Sinh Trưng Vương 1974
Nữ Sinh Trưng Vương 1974
 Trường Trưng Vương
Trường Trưng Vương
 Trường Trưng Vương 1972
Trường Trưng Vương 1972
 Nữ Sinh Trưng Vương 1969
Nữ Sinh Trưng Vương 1969
 Trường Trưng Vương xưa
Trường Trưng Vương xưa


Nguồn : Page Phóng Viên Chiến Trường

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Ảnh Xưa Tổng Hợp khác