Nhân vật Nguyễn Hữu Cầu (Quận He)


Nguyễn Hữu Cầu (Quận He)

Nguyễn Hữu Cầu (阮有求) còn gọi là Quận He (He là một loài cá ở biển, do ông có tài bơi lội rất giỏi nên được gọi như thế). Ông là thủ lĩnh trong cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài vào giữa thế kỷ 18, không rõ năm sinh, người làng Lôi Động, xã Tân An,
huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương .

Ông xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, có tài cả văn kiêm võ. Nhưng vì nhà nghèo nên đi làm cướp. Sau đó, ông theo Nguyễn Cừ khởi nghĩa, được Cừ yêu quý gả con gái là Nguyễn Ngọc Quỳnh cho. Chẳng bao lâu ông nổi tiếng là một viên tướng giỏi võ nghệ, dũng cảm gan dạ và nhiều mưu lược.

Khi Nguyễn Cừ bị bắt, ông đem thủ hạ về giữ núi Đồ Sơn và đất Vân Đồn. Năm 1743, Nguyễn Hữu Cầu giết được Thủy Đạo đốc binh là Trịnh Bảng, tự xưng làm Đông Đạo Thống Quốc Bảo Dân Đại Tướng Quân, thanh thế lừng lẫy.

Khi Hoàng Ngũ Phúc đem binh đến vây ở núi Đồ Sơn, ông phá vây ra, về đánh lấy thành Kinh Bắc. Trấn phủ là Trần Đình Cẩm và Đốc đồng là Vũ Phương Đề đánh thua ở Thị Cầu phải bỏ ấn tính mà chạy, triều đình ở Thăng Long được tin này rất lo lắng.

Hoàng Ngũ Phúc đem binh về, cùng với Trương Khuông lấy lại thành Kinh Bắc, nhưng thế Nguyễn Hữu Cầu vẫn mạnh, phá quân của Trương Khuông ở làng Ngọc Lâm (thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang), đuổi quân của quan thống lĩnh Đinh Văn Giai ở Xương Giang (nay thuộc xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang) rồi lại về vây dinh Thị Cầu.

Trịnh Doanh sai Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng đem binh đến đánh Hữu Cầu ở Xương Giang.
Do ông là người cướp của người giàu đem chia cho dân nghèo, nên ông đi đến đâu cũng có người theo, muốn lấy bao nhiêu quân lương cũng có.

Ông từng được các sử gia đánh giá là người kiệt hiệt và nhiều mưu mẹo.
Có khi bị vây hàng mấy vòng, ông chỉ một mình một ngựa phá vây ra, rồi chỉ trong mấy ngày lại có hàng vạn người đi theo.

Tướng sĩ của quân Trịnh ai cũng sợ ông, duy chỉ có Phạm Đình Trọng là bạn học thuở nhỏ là người hiểu và hay đối đầu với ông. Nguyên nhân chính là do Nguyễn Hữu Cầu cho đào mồ mẹ Trọng đổ xuống sông. Từ đó Phạm Đình Trọng thề không cùng sống ở đời với Nguyễn Hữu Cầu.

Năm 1746, Nguyễn Hữu Cầu cho người đem vàng về đút lót cho Đỗ Thế Giai và người nội giám là Nguyễn Phương Đĩnh để xin hàng, Trịnh Doanh thuận cho và lại phong cho làm Hướng Nghĩa Hầu.
Nguyễn Hữu Cầu tuy đã xin về hàng, nhưng vẫn cứ cướp phá các nơi, sau lại về phá ở đất Sơn Nam. Phạm Đình Trọng đánh đuổi ông ở Cẩm Giàng. Nhân lúc kinh thành không ai phòng bị, ông kéo quân về bến Bồ Đề để đánh vào kinh thành. Đến nơi thì trời vừa sáng; có tin báo, Trịnh Doanh tự đem quân ra giữ ở bến Nam Tân.

Khi Phạm Đình Trọng biết tin ấy lập tức đem quân về đánh mặt sau, Nguyễn Hữu Cầu lại thua bỏ chạy, về cùng với Hoàng Công Chất cướp ở huyện Thần Khê (thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay) và huyện Thanh Quan (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay). Phạm Đình Trọng và Hoàng Ngũ Phúc lại đem binh xuống đánh đuổi. Hoàng Công Chất chạy vào Thanh Hoá, Nguyễn Hữu Cầu chạy vào Nghệ An, hợp với thủ lĩnh khởi nghĩa tên là Diên ở Hương Lãm, huyện Nam Đường (nay là huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

Năm 1751, Phạm Đình Trọng đem quân vào đánh phá trại. Nguyễn Hữu Cầu chạy đến làng Hoàng Mai (nay là phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) thì bị bắt, đóng cũi đem về nộp chúa Trịnh. Trịnh Doanh cùng lúc đó dẹp được Nguyễn Danh Phương, bắt mang về Kinh đô, đi đến làng Xuân Hi, huyện Kim Anh (nay thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), gặp người của Phạm Đình Trọng giải Nguyễn Hữu Cầu đến. Trịnh Doanh bèn mở tiệc khao quân, bắt Nguyễn Danh Phương dâng rượu, Nguyễn Hữu Cầu thổi kèn. Ông nuốt nhục hầu chúa, khi về kinh thành định vượt ngục nhưng không thành.

Tháng 3 - 1751, ông bị hành hình. Phạm Đình Trọng mang quân về quê ông, quật mộ bố Nguyễn Hữu Cầu, giết 3 họ gia quyến ông.
Nguyễn Hữu Cầu được thờ tự ở nhiều nơi trong các đình, chùa, miếu ở các địa phương như: Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh…
Tương truyền thuở nhỏ Nguyễn Hữu Cầu và Phạm Đình Trọng cùng học một thầy. Trọng hay được thầy khen nhưng Cầu không phục. Một hôm đi đám ma về, thày cho cả hai người đi theo. Nhà đám biếu thủ lợn, Cầu và Trọng tỵ nhau không ai chịu xách. Thầy bèn ra vế đối, bảo ai đối được thì không phải xách:
Huề trư thủ (xách đầu lợn)
Trọng đối lại:
Phan long lân (Vịn vây rồng)
Còn Cầu đối:
Diệt Tần phá Sở
Thầy gõ quạt lên đầu Cầu, nói câu đối không chuẩn, thừa chữ và bắt xách thủ lợn. Nhưng Cầu vẫn gân cổ cãi:

Tôi đối sai thật, nhưng ý tôi là muốn bóc vẩy rồng kia, chứ không thèm vịn vây rồng như Trọng!
Một lần khác thày lại ra vế đối:
Mười rằm trăng náu, mười sáu trăng treo
Trọng đối:
Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc
Cầu lại đối rằng:
Tháng mười sấm rạp, tháng chạp sấm động
Thày nghe xong bảo:
Thằng Trọng có khẩu khí làm quan to, còn thằng Cầu thì chỉ làm giặc!
Rồi từ đó ông đồ sợ không dám nhận dạy Cầu nữa. Sau này quả nhiên Trọng làm quan cho nhà Lê còn Cầu khởi nghĩa chống triều đình.
Tương truyền có lần hai bên đối trận, Phạm Đình Trọng ra vế đối sai người đưa cho Cầu như sau:

土撤半橫,順者上,逆者下。
Thổ triệt bán hoành, thuận giả thượng, nghịch giả hạ
Nghĩa: chữ thổ 土 bỏ nửa một nét ngang, để xuôi là chữ thượng 上, để ngược là chữ hạ 下. Câu này có ý đe doạ Cầu nếu thuận theo triều đình thì có chức, chống lại thì bị diệt.
Nguyễn Hữu Cầu viết thư đối lại rằng:
玉藏一點,出為主,入為王。
Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi chúa, nhập vi vương
Nghĩa là: chữ ngọc 玉 có một dấu chấm, để lên đầu là chữ chúa 主, bỏ đi là chữ vương 王. Ý nói chí lớn của mình chẳng làm chúa cũng làm vua chứ không chịu hàng.

Nguồn: Tri Thức Việt



Nguồn : group Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nhân Vật Lịch Sử khác