Những hình ảnh xưa cách đây 100 năm


ngày Tết Việt Nam mọi người ăn vận tươm tất công nhâm làm đường ở Đà Nẳng chợ ở Đà Nẳng dân tộc thiểu số Lâm Đồng Voi và nài đi vòng chuồng Cọp đường lên Ngũ hành Sơn - Đà Nẳng Grand Hotel ở Nha Trang cửa Ngọ Môn điện Thái Hòa súng thần công của Pháp tặng triều đình Huế khuôn viên điện Cần Chánh - Huế sông Hương - Huế lính Pháp - Việt canh giữ Đại Nội nhà Thờ ở Phú Cam - Huế phong cảnh Vũng Tàu còn hoang sơ bải Trước ở Vũng Tàu trại lính Pháp ở Vũng Tàu Bải trước Vũng Tàu phố xá Vinh phong cảnh Đà Lạt lúc đó quá hoang sơ cảnh Đà Lạt cao nguyên Đà Lạt thác Gou Gab ở Ban Mê Thuộc công trường Nông Sơn những khối đá này không biết còn tồn tại Sầm Sơn ? chiếc cầu bắc qua sông để đi ra đéo Hải Vân rồi đến Huế thác Prench - Đà Lạt thác Liên Khánh - Đà Lạt đường xe lửa ở cao nguyên Lâm Đồng Thượng Thư Hoàng cao Khải kinh lược sứ Bắc Kỳ 1885 chỉ huy vệ binh hoàng gia và tùy tùng Ngự Lâm Quân hộ giá hoàng thượng. bửa cơm của công nhân ngôi chợ vùng ven Sài Gòn những hình ảnh này có ttừ năm 1885 - 1908,hình này là con kinh đào ở Huế những chú Voi băng mình qua sông Hương - Huế sông Hàn Đà Nẳng tại cửa biển bến cảng sông Hàn - Đà Nẳng bên bờ sông Hàn bến thuyền sông Hàn đường phố của Vinh 1885 Theo hình thể sông núi trong hình thì có thể đoán được chỗ những người này ngồi một làng ở hữu ngạn, bờ đông sông Hàn, nay thuộc pưhừong Nại Hiên Đông, Đà Nẵng, đâu đó gần đầu cầu Thuận Phước phía đông, hiện nay. Núi mờ xa xa là Hải Vân; con thuyền có lá cờ trôi trên vịnh Đà Nẵng ; núi bên phải là Sơn Trà. Nếu theo núi Sơn Trà này mà đoán định thì đây có lẽ là khu vực thuộc cảng Tiên Sa hiện nay.   1: Chiếc váy áo nhiều tầng của người phụ nữ ngoài cùng bên trái. Barrow mô tả chiếc váy này như sau: “Người phụ nữ quý phái mặc cùng lúc đến ba hoặc bốn cái áo choàng, chỉ khác nhau về màu sắc và chiều dài, cái ngắn nhất thì ở cao nhất”. Tìm kiếm trong các thư tịch, ghi chép cổ hơn ta thấy: Mô tả cách ăn mặc của người huyện Điện Bàn (bao gồm cả các huyện Đại Lộc, Duy Xuyên, Hội An, Hòa Vang, Đà Nẵng nay) vào năm 1553, Dương Văn An viết trong “Ô Châu Cận Lục”: “Đàn bà mặc váy Chiêm, đàn ông dùng quạt Bắc. Để tỏ sang hèn đồ dùng chẳng vẽ phượng thì rồng; phân biệt tôn ti, quần áo chẳng tô hồng thì tía”. Năm 1621, Cristophoro Borri, một vị cha đạo viết báo cáo về toà thánh, mô tả cái “váy Chiêm” ấy như sau: “ Họ mặc tới năm sáu váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia, và tất cả có màu sắc khác nhau. Cái thứ nhất phủ dài xuống chấm đất, họ kéo lê rất trịnh trọng, khéo léo và uy nghiêm đến nỗi không trông thấy đầu ngón chân. Sau đó là cái thứ hai ngắn hơn cái thứ nhất chừng bốn hay năm đốt ngón tay, rồi cái thứ ba ngắn hơn cái thứ hai và cứ thế trong số còn lại theo tỉ lệ cái nọ ngắn hơn cái kia, để cho màu sắc đều được phô bày trong sự khác biệt của mỗi tấm” . Như vậy, là sau 172 năm, chiếc váy nhiều tầng, nhiều màu của người “phụ nữ quý phái” là không thay đổi, nó nhiều tầng, nhiều lớp, cái trên ngắn hơn cái dưới và có nhiều màu. Liệu đó có phải là chiếc váy của người Chàm mà Dương Văn An mô tả: “Đàn bà mặc váy Chiêm,... phân biệt tôn ti, quần áo chẳng tô hồng thì tía”. Để khẳng định yếu tố Chăm của những người phụ nữ này chúng ta còn có thể dựa vào cách búi tóc. Người Việt không búi tóc. Masspero qua các ghi chép cổ của Trung Hoa (như Lượng Thư, Tuỳ Thư, Cựu Đường Thư...) mô tả: “ Họ bối tóc, đàn bà thì bối thành hình cái búa...” . Trong Chiếu Bình Chiêm, Lê Thánh Tông gọi miệt thị người Chàm: “Bọn búi tóc dùi”. 2:Về những người đàn ông Việt trong tranh Trong tranh có sáu người đàn ông thì có 3 người áo quần giống nhau: Áo cài nút chéo vai, đội nón hoặc cầm dù ra dáng không phải người lao động. Áo cài nút chéo vai là đặc điểm không thể trật của kiểu y phục người Việt. Dương Văn An mô tả: “Đàn ông dùng quạt Bắc. Để tỏ sang hèn đồ dùng chẳng vẽ phượng thì rồng”, tuy trong tranh ta không thấy người đàn ông nào cầm quạt Bắc hoặc đồ dùng vẽ rồng vẽ phượng, nhưng với phong cách “sợ” nắng (so với những người còn lại), đã đội nón quai thao rồi còn cầm thêm dù, lọng đủ biết họ có khoảng cách xã hội khá xa với những người đàn ông cởi trần, đầu đội khăn, và mặc váy. Cả ba trên vai hoặc trên ngực đều đeo một túi, hoặc một tấm như thẻ bài, hoặc có thể là túi trầu. Nếu một người không có chiếc túi màu vàng sau lưng thì với hai người có miếng màu vàng trên ngực ta có thể nghĩ đó là thẻ bài các quan hay đeo. Túi trầu thì người ta không đeo như vậy. Dầu là gì thì các túi, thẻ màu vàng này cũng gợi lên điều gì đó sang trọng, quan cách. Người đầu đội khăn, vai vác gươm hoặc giáo có thể nghĩ là một người lính đi theo 3 vị “quan” người Việt. 3: Về chiếc “váy” người đàn ông ở trung tâm bức tranh đang mặc Maspero, cũng trong “Vương quốc Chămpa”, đã khái quát y phục của người Chàm như sau: “Y phục họ mặc ngày xưa và y phục họ đang còn mặc ngày nay không khác gì y phục của người Mã Lai: Nó là một mảnh vải gọi là kama quấn quanh người từ phải sang trái và che từ ngang thắt lưng đến chân. Ngoài miếng vải đó ra cả đàn ông và đàn bà đều không mặc gì thêm nữa, trừ về mùa đông họ mặc một áo dài.” Và Nguyễn Trãi thì chép trong Dư địa chí: “Người Chiêm lấy khăn che đùi mà để lộ hình thể” . Có nghĩa là, trong hình có hai người đàn ông cởi trần và mặc váy kama. Họ là người Chàm hay người Việt chịu ảnh hưởng cách ăn mặc của người Chàm thì nay ta không thể biết. Thế nhưng theo logic mà suy thì chuyện đàn ông mặc váy là một yếu tố văn hóa không thể dễ để thay đổi, tiếp nhận. Vấn đề đặt ra là tại sao đến lúc ấy, năm 1793, mà cư dân Đà Nẵng vẫn còn mang đậm dấu ấn văn hoá Chàm đến vậy, một nền văn hóa mà chủ nhân của nó đã thực sự mất chủ quyền từ 322 năm trước, tức năm 1471, năm Lê Thánh Tông sát nhập hẳn Chiêm Thành vào Đại Việt? Đó là nói vùng Bình Định, chứ vùng Đà Nẵng thì đã được người Việt kiểm soát ngay từ năm 1306 với đám cưới công chúa Huyền Trân, đến khi Barrow đặt vẽ bức tranh ấy thì đã ngót nghét 500 năm! -Tú Trung Hồ-

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Ảnh Xưa Tổng Hợp khác