Quân Đoàn I Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa



Quân Đoàn I là một đơn vị cấp Quân Đoàn, được tổ chức hỗn hợp gồm cả Hải - Lục - Không Quân. Đây là Quân đoàn thành lập đầu tiên vào năm 1957 và là một trong bốn Quân đoàn chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong thời gian tồn tại của mình,Quân đoàn I có nhiệm vụ kiểm soát địa bàn gồm 5 tỉnh phía Bắc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa,giáp vùng lãnh thổ miền Bắc Việt Nam do chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát,ranh giới đệm danh nghĩa là Khu Phi Quân Sự vĩ tuyến 17.

Lược Sử Quân Đoàn I Quân Lực VNCH

:

Tiền thân của Vùng I Chiến Thuật là Đệ Nhị Quân Khu, được thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1952, là một trong 4 Quân khu của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Vùng kiểm soát của Đệ Nhị Quân Khu,tương ứng với vùng Trung phần Việt Nam,từ Bình Thuận trở ra Thanh Hóa. Tư lệnh đầu tiên là Trung tá Nguyễn Ngọc Lễ.

Năm 1954, địa bàn các Quân Khu được điều chỉnh lại, trong đó Đệ Nhị Quân Khu điều chỉnh chỉ còn phần lãnh thổ Trung Việt kể từ ranh giới phía bắc tỉnh Quảng Ngãi trở lên.

Sau khi Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa chính thức thành lập ngày 26 tháng 10 năm 1956, toàn bộ lãnh thổ Nam Việt Nam do Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát được chia thành 6 Quân khu . Vùng lãnh thổ phía Bắc (tương ứng với Trung phần) thuộc Đệ Nhị Quân Khu, gồm các tỉnh :Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và Thị xã Đà Nẵng.
Tư lệnh đầu tiên của Đệ nhị Quân khu thời Việt Nam Cộng Hòa là Thiếu tướng Thái Quang Hoàng.

Quân đoàn I được thành lập ngày 1 tháng 6 năm 1957 tại Đà Nẵng với nòng cốt là Sư Đoàn 1 và Sư Đoàn 2 Dã Chiến, do Trung tướng Thái Quang Hoàng kiêm Tư Lệnh đầu tiên.
Địa bàn kiểm soát của Quân Đoàn I hoàn toàn trùng lắp với địa bàn của Đệ Nhị Quân Khu.

Cuối năm 1961, các Quân Khu được cải tổ thành các Vùng Chiến Thuật (trừ Quân khu Thủ Đô đổi thành Biệt khu Thủ Đô). Đệ Nhị Quân Khu được cải tổ thành Vùng 1 Chiến Thuật, từ đó có danh hiệu liên hợp Quân Đoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật.
Địa bàn của Vùng 1 được tổ chức thành các Khu chiến thuật: Khu 11 chiến thuật (gồm 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên), Khu 12 chiến thuật (gồm 2 tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi) và Đặc khu Quảng-Đà (gồm tỉnh Quảng Nam và thị xã Đà Nẵng).
Các tỉnh cũng được tổ chức về mặt quân sự thành các Tiểu khu chiến thuật, đứng đầu là một sĩ quan cấp Đại tá hoặc Trung tá với chức danh Tỉnh trưởng (hoặc Thị trưởng) kiêm Tiểu khu trưởng, chỉ huy các Tiểu đoàn Địa Phương Quân và các Chi khu (trong đó có các Trung đội Nghĩa Quân).
Quân số của mỗi Tiểu khu tương đương với quân số của một Sư Đoàn nhưng về mặt trang bị không bằng các đơn vị Chủ Lực. Vì vậy khi cần thiết sẽ được sự hỗ trợ của các Sư Đoàn Bộ Binh. Do đó, khi phối hợp tác chiến Tiểu khu trưởng dưới quyền của Tư Lệnh Sư Đoàn.

Đầu tháng 3 năm 1975, sau khi chiếm được quyền kiểm soát các tỉnh cao nguyên thuộc Quân Khu ll của Việt Nam Cộng Hòa, chỉ trong vòng 25 ngày, lực lượng Quân đội Bắc việt và Quân Mặt trận Giải phóng miền Nam lần lượt chiếm Huế, Đà Nẵng, đánh tan lực lượng của Quân Đoàn I cùng các đơn vị Tổng Trừ Bị tăng cường tại đây. Các đơn vị còn lại của Quân đoàn I rút lui vội vã về phía Nam và được sát nhập vào Quân Đoàn III để lập phòng tuyến Phan Rang. Quân Đoàn I chính thức bị xóa sổ.

Tư Lệnh Quân Đoàn I



1 - Trung tướng Thái Quang Hoàng :06/1957-10/1957

2 - Trung tướng Trần Văn Đôn: 15/10/1957 đến 07/12/1962

3 - Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm: 07/12/1962 đến 21/8/1963

4 - Thiếu tướng Đỗ Cao Trí: 21/8/1963 đến 11/12/1963

5 - Trung tướng Nguyễn Khánh: 11/12/1963 đến 30/01/1964

6 - Thiếu tướng Tôn Thất Xứng: 30/01/1964 đến 14/11/1964

7 - Trung tướng Nguyễn Chánh Thi: 14/11/1964 đến 14/03/1966

8 - Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuẩn: 14/03/1964 đến 09/04/1966

9 - Trung tướng Tôn Thất Đính: 09/04/1966 đến 15/05/1966

10 - Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao: 15/05/1966 đến 20/05/1966

11 - Thiếu tướng Trần Thanh Phong: 20/05/1966 đến 30/05/1966

12 - Trung tướng Hoàng Xuân Lãm: 30/05/1966 đến 03/05/1972

13 - Trung tướng Ngô Quang Trưởng: 03/05/1972 đến 30/04/1975.
Tư Lệnh cuối cùng.

(Trích Wiki)

 Quân Kỳ
Quân Kỳ
 Trại Nguyễn Tri Phương   Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l
Trại Nguyễn Tri Phương Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l
 Trại Nguyễn Tri Phương   Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l
Trại Nguyễn Tri Phương Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l
 Trại Nguyễn Tri Phương   Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l
Trại Nguyễn Tri Phương Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l
 Trại Nguyễn Tri Phương   Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l
Trại Nguyễn Tri Phương Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l
 Trại Nguyễn Tri Phương   Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l  Đà Nẵng 1968
Trại Nguyễn Tri Phương Đại Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l Đà Nẵng 1968
 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l năm 1969
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l năm 1969
 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l năm 1969
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l năm 1969
 Tướng Hoàng Xuân Lãm tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l tháng 2/1970
Tướng Hoàng Xuân Lãm tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l tháng 2/1970
 Nhóm cố vấn Mỹ cao cấp phía trước trụ sở Bộ Tư Lệnh QĐ1 và QK1 tại Đà Nẵng (Trại Nguyễn Tri Phương)    (046) Group shot of high ranking military officials outside of I Corps Headquarters, DaNang. Left to right: Major General Rathvon McCTompkins, Deputy Commanding General, III Marine Amphibious Force; Major General Earl E. Anderson, Chief of Staff, III Marine Amphibious Force; Mr. Cross, Director, CORDS; major General Carl A. Youngdale, Commanding General, 1st Marine Division; major General C.M. Gettys, USA, Commanding General, Americal Division; Major General Clifford Drake, Deputy Commanding General, XXIV Corps; Major General Charles J. Quilter, Commanding general, 1st Marine Aircraft wing; Brigadier General Lee, Commanding General, 2nd Republic of Korea Marine Brigade; Rear Admiral J.V. Bartlett, USN, Commander 3rd NCB; and rear Admiral J.B. Osborn, USN, Commander NSA.About Brigadier General Edwin H. SimmonsBrigadier General Edwin H. Simmons served two tours of duty during the Vietnam Conflict. He was attached as a G-3 with II MAF and CO, 9th Marines, 1965-1966. Then from 1970 through 1971, Simmons served as ADC, 1st Marine Division.About the CollectionLess than one linear foot of official photographs document Bigadier General Edwin H. Simmons' two tour of duty in Vietnam, 1965-1966, 1970-1971. All photographs date from these two date spans and are 8x10 prints with captions.
Nhóm cố vấn Mỹ cao cấp phía trước trụ sở Bộ Tư Lệnh QĐ1 và QK1 tại Đà Nẵng (Trại Nguyễn Tri Phương) (046) Group shot of high ranking military officials outside of I Corps Headquarters, DaNang. Left to right: Major General Rathvon McCTompkins, Deputy Commanding General, III Marine Amphibious Force; Major General Earl E. Anderson, Chief of Staff, III Marine Amphibious Force; Mr. Cross, Director, CORDS; major General Carl A. Youngdale, Commanding General, 1st Marine Division; major General C.M. Gettys, USA, Commanding General, Americal Division; Major General Clifford Drake, Deputy Commanding General, XXIV Corps; Major General Charles J. Quilter, Commanding general, 1st Marine Aircraft wing; Brigadier General Lee, Commanding General, 2nd Republic of Korea Marine Brigade; Rear Admiral J.V. Bartlett, USN, Commander 3rd NCB; and rear Admiral J.B. Osborn, USN, Commander NSA.About Brigadier General Edwin H. SimmonsBrigadier General Edwin H. Simmons served two tours of duty during the Vietnam Conflict. He was attached as a G-3 with II MAF and CO, 9th Marines, 1965-1966. Then from 1970 through 1971, Simmons served as ADC, 1st Marine Division.About the CollectionLess than one linear foot of official photographs document Bigadier General Edwin H. Simmons' two tour of duty in Vietnam, 1965-1966, 1970-1971. All photographs date from these two date spans and are 8x10 prints with captions.
 Không ảnh: Trại Nguyễn Tri Phương,Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I tại Đà Nẵng.
Không ảnh: Trại Nguyễn Tri Phương,Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I tại Đà Nẵng.
 Bộ đội Bắc Việt chiếm Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l vào hồi 11 giờ 35 phút ngày 29/3/1975.
Bộ đội Bắc Việt chiếm Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn l vào hồi 11 giờ 35 phút ngày 29/3/1975.


Trại Nguyễn Tri Phương tại Đà Nẵng năm 1966

Trại Nguyễn Tri Phương là nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I.

 Trại Nguyễn Tri Phương tại Đà Nẵng năm 1966    Trại Nguyễn Tri Phương là nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I.
Trại Nguyễn Tri Phương tại Đà Nẵng năm 1966 Trại Nguyễn Tri Phương là nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I.
 Trại Nguyễn Tri Phương tại Đà Nẵng năm 1966    Trại Nguyễn Tri Phương là nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I.
Trại Nguyễn Tri Phương tại Đà Nẵng năm 1966 Trại Nguyễn Tri Phương là nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I.


Nguồn : Page Phóng Viên Chiến Trường

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nhân Vật Lịch Sử khác