Thiếu tướng Hoàng Đan - vị tướng phòng thủ giỏi nhất QĐNDVN


Thiếu tướng Hoàng Đan sinh ra ở xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong một gia đình có truyền thống quân sự lâu đời, nhiều thế hệ đỗ đạt ra làm quan võ, làm thầy thuốc. Theo gia phả họ Hoàng ông là hậu duệ đời thứ 21 của danh tướng đời nhà Trần Hoàng Tá Thốn, hiệu Sát Hải đại vương; hiện ở huyện Yên Thành vẫn còn đền thờ. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng nên ông cũng giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Tháng 10 năm 1946, dưới sự giới thiệu của Hoàng La và Trần Văn Quang, Hoàng Đan đã được kết nạp chính thức là một thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công việc của ông lúc này là liên chi ủy viên tiểu đoàn - bí thư chi bộ, đồng thời cũng là chính trị viên của đại đội 2 - nơi ông nhận công tác. Trong kháng chiến chống Pháp, ban đầu chỉ được giữ chức Trung đội trưởng, nhưng bằng khả năng và bản lĩnh của mình, ông lần lượt được bổ nhiệm các chức vụ quan trọng. Khi kết thúc kháng chiến chống Pháp, Hoàng Đan được chỉ định làm trưởng ban tác chiến sư đoàn 304. Đến năm 1955, ông được điều về Trường Trung cao Quân sự (sau này là học viện Quân sự). Hoàng Đan làm giáo viên tại đó đến năm 1959 thì chuyển sang làm trưởng phòng khoa học quân sự. Năm 1960 ông được Bộ cử đi học lớp Trung cấp tại Liên Xô, tức học viện quân sự Frunze cùng với 11 đồng chí khác. Trước khi đi, ông được phong quân hàm Trung tá. Năm đó ông 32 tuổi, lần đầu tiên ông được thụ phong quân hàm chính thức.
Có thể nói Thiếu tướng Hoàng Đan và Đại tướng Lê Trọng Tấn là cặp bài trùng công thủ không thể tách dời, nếu tướng Lê Trọng là cánh tay phải đắc lực của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì thiếu tướng Hoàng Đan lại là cánh tay phải của tướng Lê Trọng Tấn. Nếu tướng Tấn có giai thoại 3 lần ''cãi'' cấp trên - Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì Thiếu tướng Hoàng Đan cũng có câu truyện 3 lần vào Nam để giúp vị chỉ huy của mình - Tướng Lê Trọng Tấn nhằm giúp tướng Tấn có thể hoàn thành chiến dịch lịch sử của mình. Lần thứ nhất ông vào giúp làm kế hoạch tác chiến, "giã" thẳng Thượng Đức nhằm mở toang cánh cửa xuống đồng bằng, uy hiếp Đà Nẵng từ hướng tây - nam. Lần thứ hai, ông vào mang theo công binh, hỏa tiễn và đạn pháo để chiếm Thượng Đức. Đến đợt thứ ba, ông lại vào để “giữ vững” Thượng Đức.
***----***----***
Thượng Đức - đỉnh cao của chiến thuật phòng ngự phản công.

Thượng Đức là cứ điểm chiến lược của Việt Nam Cộng Hòa. Là cửa ngõ vào Đà Nẵng từ hướng Tây Nam, có thể coi nắm được cao điểm này là nắm được yết hầu của thành phố lớn thứ 2 Việt Nam Cộng Hòa. Sư đoàn 304, vào thời điểm này đã thuộc về biên chế Quân đoàn 2(quân đoàn sau thuộc binh đoàn Duyên Hải gồm sư đoàn 3, quân đoàn 2 và quân đoàn 4 của tướng Lê Trọng Tấn), được giao nhiệm vụ làm đơn vị chủ công cho chiến dịch chiếm đóng Thượng Đức dưới sự hỗ trợ của Quân khu 5.Tháng 6 năm 1974, ông đại diện Quân đoàn 2 vào giúp Sư đoàn 304 biên soạn kế hoạch tác chiến cho trận đánh. Thượng Đức là một địa bàn miền núi cách thành phố Đà Nẵng khoảng 60 km, gần phía Lào. Quận lị và Chi khu quân sự Thượng Đức của quân đội Sài Gòn có 1 đồn chính, do Tiểu đoàn 79 đóng giữ. Bên cạnh, là Quận lị hành chính, do 2 trung đội bảo an địa phương quân, một đại đội cảnh sát dã chiến bảo vệ. Vòng ngoài có các đồn nhỏ như Ba Khe, và cao điểm 52, do 1 trung đội viễn thám, và 16 trung đội nghĩa quân bảo vệ. Lực lượng khá đông, trên dưới 2.000 người, tất cả đặt dưới sự chỉ huy của trung tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng. Cả khu vực này đã hình thành một cứ điểm được tổ chức khá liên hoàn, chặt chẽ, có 35 công sự kiên cố, lô cốt nửa nổi nửa chìm, có hệ thống hầm ngầm, giao thông hào liên hoàn, hỏa lực mạnh. Nhiệm vụ của Sư đoàn 304 cùng các đơn vị của Quân khu 5 là đánh chiếm quận lị và Chi khu quân sự Thượng Đức, và đánh viện từ Đà Nẵng lên. Theo nhận định của trên, vì Thượng Đức rất quan trọng, nếu bị mất thì Đà Nẵng bị đe dọa, nên có khả năng quân đội Sài Gòn sẽ điều cỡ sư đoàn lên cứu Thượng Đức. Tướng Hoàng Đan đang làm Phó Tư lệnh Quân đoàn 2, Bộ Tổng tham mưu ở Hà Nội lập kế hoạch đánh chiếm Thượng Đức, giao cho quân khu 5 thực hiện, và Sư đoàn 304 của Quân đoàn 2 tham gia làm lực lượng chính. Sư đoàn 304 (do thượng tá Lê Công Phê làm Sư đoàn trưởng) sẽ đánh thử cỡ sư đoàn của quân đội VNCH, để xem khả năng chiến đấu của cấp sư đoàn của cả 2 bên như thế nào. Mọi việc chuẩn bị khó nhăn nhất đã xong, rất yên tâm, Phó Tư lệnh Quân đoàn Hoàng Đan để việc chỉ huy trận đánh Thượng Đức cho Sư trưởng Lê Công Phê, và Sư phó Nguyễn Ân, còn ông về Quân đoàn làm nhiệm vụ chỉ huy huấn luyện Quân đoàn 2 vừa mới được thành lập. Sau đó ông quay trở lại ra Hà Nội. Tuy nhiên, tháng 7 năm 1974, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 thất bại trong đợt tiến công đầu tiên vào cứ điểm Thượng Đức. Đứng trước tình thế trên, dưới sự chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu, mà tướng Lê Trọng Tấn vào thời điểm đó là Phó Tổng Tham mưu Trưởng, Bộ Tư lệnh quân đoàn 2 nhanh chóng điều động, tăng cường Đại tá Hoàng Đan vào làm tư lệnh tiền phương chiến dịch. Tướng Hoàng Đan đang chỉ đạo huấn luyện Quân đoàn 2, thì nhận được điện cùng một lúc từ 3 nơi, Sư đoàn 304, Quân khu 5, và Bộ Quốc phòng từ Hà Nội điện vào, cho biết Sư đoàn 304 tấn công Thượng Đức không thành công. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 thảo luận chớp nhoáng, và thống nhất Phó Tư lệnh Quân đoàn Hoàng Đan phải vào Thượng Đức ngay, để nắm tình hình thực tế, và có chỉ đạo trực tiếp. Xuống ngay Sư đoàn 304, nghe báo cáo lại tình hình, rồi sau khi tìm hiểu kỹ càng, Phó Tư lệnh Quân đoàn Hoàng Đan rút ra kết luận như sau: Chủ quan khinh địch. Rút ra bài học kinh nghiệm, phổ biến cho lãnh đạo Sư đoàn 304, tướng Hoàng Đan cùng lãnh đạo Sư đoàn chỉ đạo tấn công lại, thay đổi cách chỉ huy. Đêm ngày mồng 6 tháng 8, QĐNDVN bắt đầu pháo kích có trọng tâm các căn cứ hỏa lực của quân đội Sài Gòn. Chỉ sau hơn 4 tiếng đồng hồ, đến 9 giờ sáng ngày mồng 7 tháng 8, sư đoàn 304 đã chiếm được Thượng Đức. Ở lần thứ 2 trở lại này, tướng Hoàng Đan nhận thấy ở đây có hệ thống công sự và lô cốt hầm ngầm tương đối kiên cố, vậy là ông yêu cầu kéo pháo vào gần trận địa và hạ nòng bắn thẳng vào lô cốt hầm ngầm, hiệu suất tiêu diệt tương đối cao. Nếu không có khối óc của vị chỉ huy tài ba và sự táo bạo của 1 chiến sĩ gan dạ thì liệu ai có thể nghĩ ra 1 cách làm như vậy, pháo bắn thẳng...thử tưởng tượng bạn là người lính phòng thủ trong công sự đó thì bạn phải chịu sức ép về tâm lí lớn như thế nào. Sau chiến thắng ở Thượng Đức, ông trở lại miền Bắc, tiếp tục làm công tác xây dựng quân đoàn. Không để Quân đội nhân dân Việt Nam uy hiếp Đà Nẵng, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa điều động gấp sư đoàn bộ binh số 3 và sư đoàn dù, đơn vị dự bị chiến lược đặc biệt tinh nhuệ, ra tái chiếm Thượng Đức. Cách tấn công của lính dù VNCH rất bài bản. Đầu tiên, họ bí mật tiến sát các vị trí của giải phóng quân. Sau đó, họ cho pháo bắn, máy bay ném bom vào các vị trí phòng ngự của quân giải phóng. Lực lượng này nhanh chóng chiếm được các cao điểm quan trọng của Thượng Đức, đẩy QĐNDVN vào thế bị động trên chiến trường, uy hiếp mạnh mẽ thành quả có được thời gian trước đó. Đại tá Hoàng Đan buộc phải lần thứ 3 vào Thượng Đức chỉ huy. Cùng vào với ông có thêm một Trung đoàn bộ binh (Sư đoàn 304 vốn có 3 Trung đoàn), các tiểu đoàn công binh, hỏa tiễn, đạn pháo...v.v... Sau 3 tháng hao tổn mà không hạ được cứ điểm, sư đoàn dù nhanh chóng rút khỏi Thượng Đức. Thượng Đức được giữ vững cùng với chiến thắng của tướng Hoàng Cầm ở Phước Long ngay sau đó, Thượng Đức tạo nên tiền đề cho các chiến dịch góp phần thống nhất Việt Nam trong mùa xuân năm 1975.
Tháng 3 năm 1975, Đại tá Hoàng Đan và quân đoàn 2 tham gia Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng dưới sự lãnh đạo của Trung tướng Lê Trọng Tấn. Hoàng Đan đại diện Quân đoàn 2 báo cáo cho Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và bộ Tư lệnh Chiến dịch về kế hoạch tác chiến, vào ngày 28 tháng 2 trước đó. Đại tá Hoàng Đan đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Lê Trọng Tấn nhắc nhở phải lập sẵn kế hoạch táo bạo hơn nữa, đồng thời cũng phải chú ý đồng bộ với tốc độ hành quân của các mũi tấn công khác. Dự đoán của Đại tướng đã không sai, tốc độ hành quân thần tốc của quân đoàn 2 khiến các lực lượng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị choáng ngợp, lúng túng, dẫn tới rút lui thiếu tổ chức. Như việc chỉ một tiểu đoàn thiếu đơn vị tăng thiết giáp của quân đội ta có mặt ở phía sau Đèo Hải Vân đã khiến cả sư đoàn địch đóng ở đây rút chạy. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không kịp rút khỏi Đà Nẵng, tổn thất mười vạn quân và một lượng lớn khí tài quân sự. Theo đà thắng lợi, quân ủy TW cho phép triển khai chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Quân đoàn 2 trong chiến dịch này trực thuộc Cánh quân phía Đông dưới sự chỉ đạo của Trung tướng Lê Trọng Tấn, tiến thẳng tới Sài Gòn. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên, bắt sống toàn bộ nội các cuối cùng của chính phủ VNCH, kết thúc 21 năm đất nước bị chia cắt.
***----***----***
Thống nhất rồi, phải, những tưởng sẽ là cái kết có hậu cho một đời chinh chiến của ông và cho những người đồng chí của ông. Nhưng không, rồi đây, kẻ thù lại buộc ông phải ra trận một lần nữa, ông và chỉ huy của mình lại tiếp tục viết tiếp trang sử vẻ vang của cuộc đời mình. Ông cùng Đại tướng Lê Trọng Tấn, rồi đây, mỗi người sẽ gánh trên mình trách nhiệm nặng nề, mỗi người sẽ trấn giữ 2 đầu biên cương của Tổ Quốc, chống lại quân diệt chủng và quân bành trướng, và khi này, những cái tên bình độ 400, Vị Xuyên lại được viết tiếp trong cuộc đời ông.
***----***----***
Đại tá Hoàng Đan được tấn thăng lên quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm năm 1977, đợt phong hàm Thiếu tướng đầu tiên sau Kháng chiến Chống Mỹ. Ông trở thành sĩ quan cấp tướng năm 49 tuổi. Một năm sau, Thiếu tướng Hoàng Đan được điều vào trong Nam tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc tại biên giới Tây Nam giáp với Campuchia. Ông tham gia vào công tác biên soạn kế hoạch tác chiến tấn công vào Campuchia. Sau vài tháng, ông rút ra Bắc, tiếp tục làm công tác giảng dạy. Tuy nhiên, gia tăng căng thẳng biên giới với Trung Quốc dẫn tới việc ông được điều động lên mặt trận phía Bắc vào năm 1979. Ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 5 (phiên hiệu khác là Quân đoàn 14), Tư lệnh mặt trận Lạng Sơn kiêm phó tư lệnh Quân khu 1. Vài ngày trước khi lệnh bổ nhiệm chính thức xuống, ông đã lên Lạng Sơn, trực tiếp đi trinh sát trận địa. Theo các tài liệu chính thức, khi đi vòng sát qua biên giới, xe thiết giáp hạng nhẹ của ông bị pháo binh Trung Quốc phát hiện. Xe ông bị bắn trúng bởi một phát pháo 155mm. Lái xe, cận vệ cũng như thư ký của ông hi sinh. Ban đầu, ông được cho là cũng đã hi sinh. Chỉ tới tối, sau khi ông một mình đi qua hàng chục km, lẩn tránh truy kích của trinh sát địch, về tới Bộ Tư lệnh Quân đoàn thì mọi người mới rõ là ông thoát chết.
***----***----***
Đằng sau một câu nói bất hủ...

Năm 1981, Quân đội Trung Quốc tổ chức tiến công mạnh mẽ, với một số sư đoàn bộ binh làm chủ công cùng với một lượng lớn các đơn vị hỗ trợ như pháo binh, công binh...v.v... Họ triển khai tiến công từ nhiều hướng khác nhau, chiếm được nhiều cao điểm chiến lược sát biên giới nước ta. Thế địch như nước lũ, Hoàng Đan tới thẳng mặt trận, chỉ huy trực tiếp, tổ chức phòng ngự phản công có chiều sâu chống địch quanh khu vực Bình độ 400 (Cao điểm 400). Cao điểm 400 là một cao điểm nhỏ, với tiếp diện chỉ có vài trăm mét, chỉ đủ cho vài trăm binh sĩ trú đóng. Tại đây, phía Trung Quốc triển khai một Sư đoàn Bộ binh làm đơn vị tiến công chủ lực và hàng chục các đơn vị hỗ trợ như pháo binh, công binh...v.v... Quy mô tổng cộng có lúc lên tới ba bốn vạn quân. Phía Việt Nam, Thiếu tướng Hoàng Đan trực tiếp chỉ huy, lấy Trung đoàn Bộ binh 52 thuộc Sư đoàn 337 làm đơn vị phòng ngự chủ lực, được hỗ trợ bởi các đơn vị như Đoàn Đặc công 198, Trung đoàn Công binh 514, Tiểu đoàn Pháo binh 11 thuộc Trung đoàn Pháo binh 108...v.v... Quân số khoảng một vạn quân. Khi Thiếu tướng Hoàng Đan tới mặt trận, Quân đội Trung Quốc đã chiếm được cao điểm 400. Ông ngay lập tức triển khai tái chiếm lại. Với gần ba mươi năm thao chiến từ năm 45 tới năm 75 của mình, các trung đội đặc công Việt Nam tinh nhuệ không mấy khó khăn tiêu diệt tiểu đoàn phòng thủ cao điểm 400 của Quân đội Trung Quốc, rồi chuyển giao công việc phòng thủ cao điểm này cho Trung đoàn Bộ binh 52. Trong khi đó, để chiếm được cao điểm, Trung Quốc phải trả cái giá đắt hơn rất nhiều. Như cách tiền nhân Trung Quốc đã dùng từ thời Chiến tranh Triều Tiên, họ dùng chiến lược biển người. Chỉ huy Trung Quốc lấy từng tiểu đoàn một ùa lên, sau một vài đợt tiến công mới chiếm được cao điểm, thương vong hàng trăm người. Phía Việt Nam thì đại đội phòng thủ thuộc Trung đoàn Bộ Binh 52 đóng trên cao điểm hi sinh gần như toàn bộ. Sau đó, suốt một tháng, một khi một bên chiếm được cao điểm, bên còn lại ngay lập tức tổ chức tiến công vào cao điểm. Hai bên luân phiên chiếm đóng trường kỳ cao điểm trên, tạo nên một cuộc chiến tiêu hao, một cuộc chiến tâm lý, một cuộc chiến về sĩ khí. Điều này khiến ưu thế về quân số của Trung Quốc mất hẳn. Thế công trên mặt trận của Quân đội Trung Quốc mất dần, do các lực lượng chủ chốt bị giữ lại ở quanh Bình Độ 400. Đồng thời, Thiếu tướng Hoàng Đan cũng tổ chức các cánh quân nhỏ, tinh nhuệ đánh thọc sườn, tập hậu, đánh sâu vào hậu phương địch, gây ảnh hưởng tới khả năng tác chiến cũng như sĩ khí của Quân đội Trung Quốc. Trong lúc trận đánh diễn ra, Thiếu tướng Hoàng Đan đã nhiều lần lên trên cao điểm 400, trực tiếp quan sát, chỉ huy chiến trận. Một trong những lần đó, Quân đội Trung Quốc triển khai lực lượng pháo binh, tạo nên hỏa lực tập trung, hòng cày nát cao điểm 400. Thiếu tướng Hoàng Đan vẫn bình tĩnh, ngồi xuống ghế quan sát trận pháo từ trên cao. Ông bảo với những cấp dưới trốn dưới công sự: ''Sống, chết, thời, vận, số! Một khi anh đã tới số thì đạn pháo còn tìm được anh trong công sự! ”.
Điều này giúp cho sĩ khí của đại đội phòng thủ luôn cao, dù cho biết rằng sẽ hi sinh toàn bộ khi lên cao điểm phòng thủ. Nhưng cái chết có há chi, chỉ sợ mảnh đất của Tổ Quốc một lần nữa bị giày xéo bởi gót chân cuộc giặc ngoại xâm mà thôi...Trải qua hàng chục cuộc giao chiến lớn nhỏ quanh khu vực cao điểm 400, Thiếu tướng Hoàng Đan đã đánh kiệt quệ sư đoàn bộ binh chủ công của Quân đội Trung Quốc, buộc địch phải dùng tới cả các đơn vị dự bị. Tuy nhiên, thương vong bên phía Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng rất lớn: trung đoàn bộ binh 52 cũng ở trong tình trạng không khá hơn địch là bao, một số đại đội thậm chí hi sinh toàn bộ. Cuối tháng 6, nhận thấy thế địch đã mất, không cần phải hi sinh thêm binh sĩ ở cao điểm 400 nữa, ông cho rút xuống các đơn vị bộ binh còn lại, chỉ sử dụng pháo binh đánh chặn. Sau khi các đơn vị bộ binh của Việt Nam lùi sâu khỏi mặt trận, Quân đội Trung Quốc cũng không tiến công, chiếm lấy cao điểm, do thiên thời đã mất. Họ chỉ sử dụng pháo binh đáp trả Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tới cuối năm 1981 thì hai bên dần rút khỏi khu vực giao chiến. Qua trận đánh này, thiếu tướng Hoàng Đan vô hình trung tạo nên một bức tường tâm lý cho các cuộc tiến công của Trung Quốc trong vài năm tới. Các tư lệnh Trung Quốc đã lãnh giáo tính quật cường của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Bình Độ 400 dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông. Sau một thời gian dài ít giao tranh quy mô lớn, tháng 7 năm 1983, ông được Bộ Tổng Tham mưu điều về cục khoa học quân sự trực thuộc Bộ Tổng tham mưu làm phó cục trưởng (nay là cục khoa học công nghệ và môi trường trực thuộc Bộ Quốc phòng). Trong quá trình công tác tại đây, với kinh nghiệm và nhiệt huyết của mình, ông đã tích cực nghiên cứu, góp phần cải thiện nền khoa học quân sự nước ta trong thời kỳ chiến tranh hiện đại.
Quân đội Trung Quốc sau ba năm cải tổ, tinh giảm biên chế, tập trung phát triển kinh tế và hiện đại hóa quân đội, đã trở nên hùng mạnh hơn hẳn trước. Ở giai đoạn 1979-1981, do Trung Quốc vẫn sử dụng các chiến thuật và trang bị quân sự từ thời Chiến tranh Triều Tiên nên chỉ có thể sử dụng ưu thế biển người mà tiến công nước ta, qua đó tỷ lệ thương vong của Quân đội Trung Quốc cao hơn nhiều so với Việt Nam. Tuy nhiên, với việc Trung Quốc dần chuyển sang thành một đội quân hiện đại có chiều sâu, đồng thời do Liên Xô và nước ta bắt đầu rơi vào khủng hoảng kinh tế, quân đội Trung Quốc dần dần vượt qua Việt Nam về mặt chất lượng trang bị quân sự. Chỉ một thời gian ngắn sau khi ông rời tiền tuyến, mặt trận phía Bắc trở lại thành điểm nóng. Từ năm 1984 tới năm 1986, Vị Xuyên trở thành điểm nóng của Chiến tranh biên giới phía Bắc. Trong khoảng thời gian này, Quân đội Trung Quốc đã huy động tới hàng chục vạn quân chiến đấu ở giao điểm vài chục ki lô mét này. Lực lượng trực chiến ban đầu bao gồm bốn Sư đoàn Bộ binh được yểm trợ bởi hàng chục đơn vị khác, trong đó có Sư đoàn Pháo binh số 4 của Đại Quân khu Côn Minh, số lượng pháo lên tới nghìn khẩu. Về sau các đơn vị của các Đại Quân khu khác của Trung Quốc được điều động tới để luân phiên, tăng cường chiến đấu. Các đơn vị quân sự Trung Quốc tổ chức tiến công, thọc sâu vào lãnh thổ nước ta, có thời điểm vào sâu tới hàng chục km. Thiếu tướng Hoàng Đan được điều động gấp lên Quân khu 2 làm Tư lệnh Tiền phương, được giao nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu trực tiếp ở Vị Xuyên. Ông lấy tinh binh làm chính, lấy hiểu biết địa hình phía Bắc của quân và dân ta làm điểm tựa, xây dựng hệ thống địa đạo công sự xuyên suốt chiến trường. Qua đó, tỷ lệ thương vong giảm xuống, góp phần vào việc đánh bật các đơn vị Trung Quốc khỏi các cao điểm chiếm được, khiến địch phải dần lùi sâu về sát biên giới gốc...
***----***----***
Thay cho lời kết...
Dẫu biết rằng bài dài, nhưng dài lại hóa ngắn, bởi vì trong khuôn khổ của một bài viết, không thể nào nói hết sự vĩ đại của một “thế hệ vĩ đại nhất” của đất nước này[1]. Tiêu biểu cho lớp người vĩ đại ấy là những con người vĩ đại như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Lê Trọng Tấn, Thiếu tướng Hoàng Đan...Mong rằng, thế hệ chúng ta sẽ tiếp nối, gìn giữ và phát huy thành quả mà lớp người đi trước đã truyền lại. Sau cùng mong các em 99er thi tốt, rồi mai đây, các em sẽ là chủ nhân của đất nước này, mong các em gìn giữ và xây dựng đất nước ngày một vững mạnh, và nhất là các em không bao giờ được phép quên những người đã ngã xuống, những người đã hi sinh và cái giá của độc lập tự do.
***----***----***
Đêm tháng Năm vào bình độ 400
Đoàn xe trôi êm tầm đại bác
Thuốc súng tanh lá rừng kêu xào xạc
Chúng no máu rồi không cắn nữa đâu
Lắc lư xe quan tài chạy về sau
Máu rỏ xuống đường cuộn vào cát bụi
Lại xe quan tài vượt lên lầm lũi
Tốp thương binh bê bết máu mặt mày
Đám giặc kia thánh phật dạy ăn chay
Chẳng kiêng gì ngày Rằm mùng Một
Đạn cày xới đất tơi trồng cây tốt
Tưới máu người cướp giữ đất biên cương
Tư lệnh Hoàng Đan trận này cầm quân
Ông bảo rằng "sống chết thời vận số"
Cả trung đoàn ào ào như thác lũ
Bình độ 400 bình độ trận người
Những chàng trai sống chết trận này ơi
Máu đổ xuống ông trời tuôn nước mắt
Ơn nhớ mãi thân người đi giữ đất
Người trở về ăn, sống, ở ra sao?
(Thơ cựu chiến binh Nguyễn Mạnh Hùng, lính thông tin E2, F3 Sao Vàng năm 1981.)

[1]: Trích câu nói của tác giả James G. Zumwalt - Trung tá Thủy quân Lục chiến - người đã từng tham chiến ở chiến trường Việt Nam,- Chân trần chí thép, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr. 255, 368, 307.

Vì bài viết có liên quan đến phần trước'' Đại tướng Lê Trọng Tấn và con đường trở thành Zhukov của Việt Nam'' nên ad sẽ để link ở cuối bài cho các mem tiện theo dõi.
#HUST



Nguồn : Page Tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam (Viet Nam War)

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nhân Vật Lịch Sử khác