Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam


Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam


Tân khóa Sinh khóa 28/Trường Võ Bị QGVN chinh phục đỉnh Lâm Viên.

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Tân khóa Sinh khóa 28/Trường Võ Bị QGVN chinh phục đỉnh Lâm Viên.
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Tân khóa Sinh khóa 28/Trường Võ Bị QGVN chinh phục đỉnh Lâm Viên.


Đà Lạt 1967-71 - Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Đà Lạt 1967-71 - Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Đà Lạt 1967-71 - Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam


Lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Lịch Sử của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam là lịch sử của một thực thể gắn liền với lịch sử cận đại của dân tộc, của lịch sử chiến tranh Việt Nam nói chung và của giòng Quân Sử Việt nói riêng. Vào năm 1945, khoảng thời gian mà nhân loại đang hân hoan đón chào một nền hòa bình thật sự qua sự đổ vỡ toàn diện của phe Trục, người dân Việt Nam vẫn chịu âm thầm chiến đấu cho nền tự do và hòa bình của mình. Công cuộc tranh đấu này đã đem lại một thành quả đầu tiên qua Hiệp Ước Vịnh Hạ Long vào năm 1948, mà theo đó, người Pháp công nhận Việt Nam độc lập trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. Cùng trong năm ấy một Quân Đội Quốc Gia được thành hình nhưng vẫn nằm trong sự chi phối của người Pháp. Vừa tranh đấu với ngoại bang vừa chống trả lại những thủ đoạn gian manh lừa đảo của tập đoàn Cộng Sản Quốc Tế mà đại điện là Hồ Chí Minh, chính phủ lúc bấy giờ đã cho thành lập một Trường Sĩ Quan Hiện Dịch nhằm đào tạo các cán bộ nồng cốt cho Quân Đội. Trường Sĩ Quan Huế là trường Sĩ Quan đầu tiên của Việt Nam được xây cất tại Đập Đá bên cạnh giòng sông Hương. Sau hai năm, trường Sĩ Quan Hiện Dịch Huế được di chuyển về Đà Lạt vì nơi đây có đầy đủ các điều kiện về khí hậu và huấn luyện để rèn luyện các Sĩ Quan thích đáng với mọi hoàn cảnh của chiến trường mai hậu. Trường được cải tổ toàn diện và được cải danh thành Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.

Năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thực hiện cuộc cách mạng Quốc Gia và khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Quân Đội Quốc Gia với toàn vẹn chủ quyền được thống nhất chỉ huy dưới danh xưng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Trường Võ Bị Liên Quân cũng nằm trong khuôn khổ cải tổ đó và một lần nữa được cải danh thành Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, do sắc luật năm 1960 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ông cũng là người đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng một cơ sở huấn luyện khang trang tọa lạc tại đồi 1515, cách hồ Than Thở không xa. Với chương trình và phương pháp huấn luyện phỏng theo các tiêu chuẩn đào tạo Sĩ Quan của Trường Võ Bị West Point Hoa Kỳ,

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam có trách nhiệm đào tạo các cán bộ Hải-Lục-Không Quân ưu tú cho Quân Đội, có khả năng chỉ huy, ổn định bờ cõi trong thời chiến và một trình độ kiến thức bậc Đại Học để kiến tạo quê hương trong thời bình.Sinh viên của trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam liên lạc mật thiết với West Point qua một Sinh viên lớp niên trưởng. Khóa 25 rất hãnh diện vì có người bạn cùng khóa là Sinh viên Phạm Minh Tâm đang thụ huấn tại trường West Point và sẽ tốt nghiệp từ trường Võ Bị này vào năm 1974.
Không giống như các trường Ðại học quân sự Hoa kỳ vì không có sự chỉ định trực tiếp các Sinh viên được thu nhận theo học trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Ðể được thu nhận thụ huấn, các ứng viên dân sự phải hội đủ các điều kiện sau đây:

Từ 17 đến 22 tuổi.

Là công dân Việt Nam.

Chưa khi nào lập gia thất và nếu được chấp nhận thụ huấn, cam kết không lấy vợ cho đến sau khi tốt nghiệp.

Có hồ sơ hạnh kiểm tốt.
Có thể lực tốt và đầy đủ sức khỏe vớiụ chiều cao tối thiểu là 1 thước 60 phân (khoảng 5 feet 4 inches).
Có Tú tài II ban toán hay khoa học hoặc chứng chỉ văn bằng ngoại quốc tương đương. Trúng tuyển chương trình khảo thí của trường VBQGVN.
Các ứng viên muốn gia nhập Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam phải có bằng Tú Tài và được chọn lọc qua một cuộc khảo sát. Chương trình học mỗi năm được chia làm hai mùa, mùa nắng quân sự, mùa mưa văn hóa. Về quân sự, các Sinh Viên Sĩ Quan được huấn luyện chiến thuật tác chiến từ cấp Trung Đội đến Tiểu Đoàn và các cuộc hành quân liên binh. Về văn hóa, Sinh Viên Sĩ Quan được dạy chương trình bậc Đại Học dân chính, thêm vào các cuộc thực nghiệm tại các phòng thí nghiệm với các học cụ tối tân, và khi mãn khóa được cấp văn bằng Cử Nhân Khoa Học Thực Dụng.

Để trao dồi nghệ thuật chỉ huy và lãnh đạo, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam có truyền thống tổ chức Hệ Thống Tự Chỉ Huy và 8 tuần huấn nhục cho các tân khóa sinh. Hệ Thống Tự Chỉ Huy ngoài mục đích giúp các Sinh Viên Sĩ Quan thực tập về chỉ huy, còn có tác dụng phát huy tình huynh đệ giữa các khóa. Tám tuần huấn nhục giúp khóa sinh dứt bỏ nếp sống dân chính, để khép mình vào khuôn khổ kỹ luật của nhà trường. Vì nhu cầu chiến trường nên thời gian thụ huấn của các khóa thay đổi từ hai đến ba hoặc bốn năm.
Từ ngày thành lập cho đến tháng 4 năm 1975, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam đã cung ứng cho các chiến trường bốn Vùng Chiến Thuật tất cả 29 khóa Sỵ Quan với tổng số gần bảy ngàn Sĩ Quan, cùng với gần 500 Sinh Viên Sĩ Quan của 2 khóa cuối cùng. Các Sĩ Quan tốt nghiệp được phân phối đi khắp các Quân, Binh, Chủng để đảm trách vai trị cán bộ Chỉ Huy hoặc Tham Mưu. Dù ở cương vị nào, kỹ thuật hay tác chiến, người Sĩ Quan xuất thân Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam vẫn luôn nuôi dưỡng tinh thần "Tự Thắng Để Chỉ Huy" và câu châm ngôn "Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm" là kim chỉ nam minh chứng mọi hành động vị quốc an dân. Đa số các Cựu Sinh Viên Sỵ Quan đã thành công trên đường binh nghiệp và làm vang danh Trường Mẹ. Những người còn sống đang tiếp tục con đường đã chọn, những người nằm xuống đã trở thành những anh hùng vị quốc vong thân.

Sau năm 1975, dầu là Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam đã đi vào Quân Sử, nhưng truyền thống Bất Khuất và Hào Hùng chưa lịm tắt được trong tâm tư của những Sĩ Quan xuất thân từ Ngôi Trường lịch sử này.

10 Điều Tâm Niệm SVSQ/TVBQGVN
1. Tự thắng để chỉ huy là điều kiện tiên quyết để thành công

2. Danh dự là kim chỉ nam hướng dẫn mọi suy tưởng và hành động của người SVSQ

3. Thành thực với bản thân, tín nghĩa với đồng bạn, trung thực với cấp chỉ huy là căn bản tác phong đạo đức của cán bộ

4. Kỷ luật SVSQ là kỷ luật thép đặt trên căn bản tinh thần tự giác.

5. Ý thức trách nhiệm là bước đầu trên đường phục vụ võ nghiệp.

6. Phát huy khả năng toàn diện và trau dồi kiến thức trong hiện tại là nhiệm vụ chính của người SVSQ trong thời gian thụ huấn.

7. Sinh hoạt đơn vị là nhu cầu để phát huy tinh thần đồng đội và khả năng lãnh đạo của người SVSQ

8. Không có gì là không thể làm được đối với SVSQ

9. Tinh thần thi đua cá nhân và đơn vị là động lực của tiến bộ

10. Tin tưởng vào tiền đồ dân tộc là quyết tâm xây dựng sự nghiệp cán bộ

Danh sách "ANH HÙNG HÀO KIỆT TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM": Tuẫn Tiết - Bức Tử - Tử Hình - Tạ Thế, trong trại tù Cộng Sản sau 30 tháng tư 1975:

1. Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ tư lệnh SĐ5BB Khoá 2/TVBQGVN (khóa 2 Lê Lợi - trường Võ bị Địa phương Huế) - Tuẫn Tiết 30/4/1975.

2. Ðại tá Hồ Hồng Nam (Tổng Cục CTCT) Khoá 3/TVBQGVN - Vừa được tha về năm 1978 thì chết tại bệnh viện.

3. Chuẩn tướng Trần Văn Hai tư lệnh SĐ7BB Khoá 7/TVBQGVN - Tuẫn Tiết 30/4/1975.

4. Thiếu tướng Phạm Văn Phú tư lệnh QĐ2 Khoá 8/TVBQGVN - Tuẫn Tiết 30/4/1975.

5. Đại Tá Nguyễn Bá Thìn (Thủ khoa Khoá 8) Khoá 8/TVBQGVN Chết trong tù cộng sản.

6. Th/Tá Ðoàn Kỳ Long (Tổng Nha Cảnh Sát) Khoá 10/TVBQGVN Tạ thế tại Trại Tù số 4 Xã Yên Lâm, Huyện Thiếu Yên, Thanh Hóa năm 79.

7. Th/Tá Huỳnh Văn Thọ Khóa 12/TVBQGVN Bộ Chỉ Huy Pháo Binh, chết tại một trại tù Miền Bắc.

8. Tr/Tá Lư Tấn Cẩm Khóa 12/TVBQGVN Công Binh Sư Đoàn 18, mât tích trên đường biển khi vượt biên tháng 5 năm 1975.

9. Th/Tá Trịnh Xuân Đắc Khóa 12/TVBQGVN Mất tích trên đường vượt biên.

10. Th/Tá Nguyễn Hữu Ðăng (Quận Trưởng) Khóa 13/TVBQGVN Tạ thế tại Trại Tù K1, Tân Lập Vĩnh Phú năm 1979

11. Th/tá Lê Vĩnh Xuân ( Quân báo BKTĐ ) Khóa 13/TVBQGVN Tự sát cùng với vợ con ngày 30/4/75

12. Th/tá Hoàng Tâm (Quân Nhu) Khóa 13/TVBQGVN Tạ thế trong trại tù Hóc Môn 1976

13. Th/tá Hồ Đắc Của (Bộ Binh QĐ1) Khóa 13/TVBQGVN Trốn trại và bị hạ sát tại trại tù ở Miền Trung

14. Ðại Uý Nguyễn Thành Long Khóa 14/TVBQGVN Bị biệt giam rồi tự tử chết tại Nhà Tù Suối Máu năm 1978.

15. Th/Tá Tôn Thất Luân Khóa 14/TVBQGVN Tạ thế ở ngoài Bắc không rõ năm.

16. Thiếu tá Nguyễn Đỗ Tước Khóa 14/TVBQGVN - Tạ thế tại Làng Đá, tỉnh Yên Bái.

17. Tr/Tá Võ Tín Khóa 14/TVBQGVN Tạ thế tại đồi Cây Khế - xã Việt Cường - huyện Trấn Yên - tỉnh Hoàng Liên Sơn

18. Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông (Trung Đoàn Trưởng Tr/Đoàn 42, SĐ 22 BB) Khóa 16/TVBQGVN Tự sát tại tuyến Quy Nhơn.

19. Ðại Tá Đặng Phương Thành (Trung đoàn Trưởng Tr/Đoàn 12/SĐ 7 BB) Khóa 16/TVBQGVN Trốn trại, bị bắt lại và bị địch đánh chết tại trại tù Hoàng Liên Sơn (BV), trước mặt nhiều người tù nhân khác

20. Th/Tá Vũ Văn Kiêm (Trưởng Phòng 3 Tiểu Khu Gia Ðịnh) Khóa 17/TVBQGVN Vượt ngục mất tích tại Trại Tù Bù Gia Mập Tháng 5, 1977. Tin tức do vợ là Vũ Nguyệt Ánh cung cấp.

21. Tr/Tá Huỳnh Văn Lượm (Lữ Ðoàn Phó TQLC) Khóa 17/TVBQGVN Rớt vào chảo nước sôi, chết tại trại tù Xuân Lộc Z30/A, khoảng năm 1983

22. Tr/Tá Võ Vàng (Liên Ðoàn Trưởng 9121 ÐPQ) Khóa 17/TVBQGVN Bị cộng sản bắn chết ở Cầu Bồng Miêu, Quảng Nam Tháng 4, 1976 rồi vu cho tội trốn trại.

23. Tr/Tá Phạm Văn Nghym Khóa 18/TVBQGVN Tạ thế tại trại tù Hoàng Liên Sơn.

24. Tr/Tá Trương Thanh Hưng Khóa 18/TVBQGVN Tạ thế tại mặt trận TIÊN PHƯỚC ,QUANG TÍN, ngày cuối cuộc chiến ( khoang tháng 2; 3/1975).

25. Ðàm Ðình Loan Khóa 19/TVBQGVN Tạ thế tại Trại Tù Miền Bắc.

26. Nguyễn Văn Sinh Khoá 19/TVBQGVN Vượt ngục ở Bù Gia Mập rồi mất tích.

27. Tr/Tá Huỳnh Như Xuân Khoá 19/TVBQGVN Tạ thế tháng 12 năm 1979 tại trại tù Tiên -Lãnh ,tỉnh Quãng Nam

28. Th/Tá Trần Văn Hợp (T. Ðoàn Trưởng TÐ2 TQLC) Khoá 19/TVBQGVN Tạ thế vì ngộ độc tại Trại 5 Kiên Thành, Ngòi Lao, Yên Báy năm 1978.

29. Th/tá Trần Văn Bé (Phòng 2/TK Định tường) Khoá 19/TVBQGVN Vượt ngục Suối Máu , bị tử hình năm 1976

30. Th/tá Lê Trọng Tài Khoá 19/TVBQGVN Trốn trại Bù Gia Mập bị bắt và ám hại.

31. Tr/Tá Nguyễn Văn Bình Khoá 19/TVBQGVN Bị VC thủ tiêu tại Tiên Lãnh.

32. Tr/Tá Lý Văn Sơn (Quận Trưởng Lý Tín (Chu Lai) Quảng Tín Khoá 19/TVBQGVN Tử thương khoảng ngày 26/03/1975 tai Chu Lai

33. Th/Tá Trần Khắc Am (Em ruột CSVSQ Trần Khắc Huyên K14) Khoá 19/TVBQGVN Tù CS 7 năm, vượt biên mất tích năm 1987.

34. Th/Tá Nguyễn Ðức Nhị Khoá 20/TVBQGVN Tạ thế tại trại tù Tân Lập, Vĩnh Phú năm 1981.

35. Nguyễn Ngọc Cang Khoá 20/TVBQGVN Tạ thế tại Trại Tù Hoàng Liên Sơn.

36. Th/Tá Huỳnh Túy Viên (Quận Trưởng Ðầm Dơi) Khóa 20/TVBQGVN Bị cộng sản tử hình bằng cách cho người móc mắt ngay tại quận lỵ Tháng 5, 1975.

37. Th/Tá Tôn Thất Trân (TĐT/TĐ 327 Địa Phương Quân) Khóa 20/TVBQGVN Bị tên Thượng Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Cộng Sản Bắc Việt Lê Văn Dậu, mang ra bờ rạch ở Bình Chánh hạ sát, sau ngày 30 tháng tư 1975.

38. Đai Úy Nguyễn Xuân (Văn ?) Thịnh (TĐT/ĐPQ TK Biên Hòa) Khóa 20/TVBQGVN Bi tử hình tại Long Giao, vì bị bọn Cai Quản Tù bắt được lá thư có ý trốn trại gởi về gia đình.

39. Trung Tá Lê văn Ngôn - Khóa 21/TVBQGVN (chết tại tù Yên Bái).

40. Ðại Úy Hoàng trọng Khuê Khóa 21/TVBQGVN Bị tử hình tại Gò Cà , tỉnh Quãng Nam năm 1981

41. Ðại Úy Trịnh lan Phương Khóa 21/TVBQGVN Tự sát tại Phủ Tổng Thống
42.Th/Tá Đỗ công Hào Khóa 21/TVBQGVN Tự sát tại BTL/QĐ1

43. Ðại Uý Đoàn văn Xường(TĐP/TĐ38 BĐQ) Khoá 22/TVBQGVN Vượt ngục -Bị bắt lại, sau khi bị đánh đập dã man và bị cho chết khát (không được cho uống nước) trong phòng kiên giam của Trại 6/Nghệ Tỉnh.

44. Ðại Úy Huỳnh Hữu Đức Khoá 22/TVBQGVN Mất Tích trên đường vượt trại cải tạo Bù Gia Mập Phước Long năm 1978 -1979.

45. Tr/Úy Võ Văn Xương TĐ6/TQLC Khóa 22/TVBQGVN (mất tích ?)

46. Đại Uý Nguyễn Hữu Thức K22/TVBQGVN (cựu ĐĐT/Đại Đội D SVSQ); mất tích năm 1977 tại Kà Tum, Tây Ninh sau khi trốn trại.

47.Trung uý Lương Thanh Thủy K22/TVBQGVN (cựu ĐĐT/Đại Đội C SVSQ) - Năm 1977 sau khi trốn trại bị bắt lại và bị đánh đến chết.

48. Th/Uý Hoàng Văn Nghị Khoá 23/TVBQGVN Trốn trại bị CS bắt đem đi xử bắn

49. Ðại Úy Nguyễn Thuận Cát (ĐĐT/TĐ39/BĐQ) Khoá 24/TVBQGVN Bị đánh đập cho đến chết tại trại: Ái Tử Bình Điền

50. Tr/Úy Tôn Thất Đường Khoá 24/TVBQGVN Tạ thế ngày 25-04-1976 trong vụ nổ kho đạn, tại trại tù Long khánh

51. Tr/Uý Nguyễn Ngọc Bửu (Ðại Ðội Trưởng TQLC) Khóa 25/TVBQGVN Vượt ngục Xuân Phước bị bắn chết tại Ấp Tây Sơn , Ðắc Lắc ngày 19-11-80.

52. Đỗ Văn Điền Khóa 25/TVBQGVN Vượt ngục Xuân Phước bị hành quyết.

53. Phạm Thế Dũng Khóa 25/TVBQGVN Vượt ngục bị bắt, chống cự bọn quản giáo mang cờ VNCH may quần đùi và bị Tử Hình

54. Hoàng Tấn Khóa 25/TVBQGVN Vượt ngục bị bắt, hành quyết tại Đà Lạt.

55. Đại úy Võ Văn Quảng (SD22BB) K25/TVBQGVN : Ra tù, đi vượt biên và chết trên đường Tìm Tự Do

56. Trung Úy Lý Công Pẩu (AET) Khóa 26/TVBQGVN Tử hình tại Trảng Lón Tây Ninh 1975.

57. Trung Úy Đặng Văn Khải Khóa 26/TVBQGVN Mất Tích trên đường vượt trại cải tạo Bù Gia Mập Phước Long năm 1978 -1979.

58. Trung Úy Lê Văn Sâm (Thủy Quân Lục Chiến) Khóa 26/TVBQGVN Trốn trại tại Phước Long 1978-79, mất tích.

59. Trung Úy Trần Văn Năm (Thủy Quân Lục Chiến) Khóa 26/TVBQGVN - Trốn trại, thí mạng với địch bằng một quả lựu đạn để đồng đội chạy thoát trên đường về Dalat.

60. Trung Úy Phạm Truy Phong (Pháo binh 175 Quân Khu II) Khóa26/TVBQGVN - Mất trong trai giam Tống Binh sau 1975.

61. Trung Úy Nguyễn Sỹ (Bộ binh) Khóa 26/TVBQGVN - Mất tích trong trại giam sau 1975.

62. Trung Uý Nguyễn văn Trường (Nhảy Dù) Khóa 26/TVBQGVN, mất tích trong trại giam sau 1975.

63. TRung ÚY Nguyễn NGUYÊN HOÀNG Khóa 26/TVBQGVN trốn trại CÂY CẦY A (TÂY NINH) 1977-1978 bị bắn.

64. Th/Úy Bùi Thế Oanh (BĐQ) Khóa 27/TVBQGVN - Mất Tích trên đường vượt trại cải tạo Bù Gia Mập Phước Long năm 1978 -1980.

65. Thiếu úy Nguyễn Tánh (BDQ) K27/TVBQGVN - Sau 30/04/1975 tham gia Phục Quốc bị mất tích.

66. Thiếu úy Nguyễn Văn Hay (SD 25BB) K27/TVBQGVN - Bị mất tích sau 30/04/75.

67. Thiếu úy Nguyễn Văn Chung (SD 9BB) K27/TVBQGVN - Năm 1977 sau trốn trại bị bắt lại và bị đánh đến chết.

68. Th/Úy Lưu Đức Sơn Khóa 28/TVBQGVN. Ra tù tham gia phong trào Phục Quốc, bị bắt và kết án 8 năm tù, rồi vượt trại và bị cộng sản bắn chết trên đường vượt sông Đại Bình ở Bảo Lộc .

69. Th/Úy Trần Hữu Sơn Khóa 28/TVBQGVN - Bị đánh cho tới chết vì hô "Ðả Ðảo cs" tại Trại Bình Ðiền Huế.

70. Th/Úy Phạm văn Bê Khóa 28/TVBQGVN Mất tích trên đường vượt tù CS (trại Đồng Ban Tây Ninh năm 1977).

71. Th/Úy Trần Văn Danh Khóa 28/TVBQGVN Mất tích trên đường vượt tù CS, trại Đồng Ban Tây Ninh năm 1977.

72. Th/Úy Trần Hữu Được (LĐ81/BCND) Khóa 28/TVBQGVN - Mất tích trên đường vượt tù CS, trại Đồng Ban Tây Ninh năm 1977.

73. Th/Úy Nguyễn Văn Chọn Khóa 28/TVBQGVN Mất tích trên đường vượt tù CS, trại Đồng Ban Tây Ninh năm 1977.

74. Th/Úy Nguyễn Văn Sáng Khóa 28/TVBQGVN Mất tích trên đường vượt tù CS, trại Đồng Ban Tây Ninh năm 1977.

75. Th/Úy Dương Hợp (LĐ81/BCND) Khóa 28/TVBQGVN Mất tích trên đường vượt tù CS, trại Đồng Ban - Tây Ninh năm 1977.

76. Th/Úy Nguyễn Gia Lê (LĐ81/BCND) Khóa 28/TVBQGVN Mất Tích trên đường vượt trại tù Bù Gia Mập Phước Long năm 1978 -1980.

77. Th/Úy Nguyễn Trần Bảo Khóa 28/TVBQGVN - Mất Tích trên đường vượt trại tù Bù Gia Mập Phước Long năm 1978 -1980

78. Th/Úy Nguyễn Quốc Việt Khóa 28/TVBQGVN - Mất tích trên đường vượt biên 1980.

79. Th/Úy Trương Như Phục Khóa 28/TVBQGVN - Mất tích trên đường vượt biên 1980.

80. Th/Úy Trương Tráng Nguyên Khóa 29/TVBQGVN Uống 16 viên thuốc ngủ tự vận chết tại Trại Tù Ấp Vàng, Sóc Trăng.

81. Th/Úy Hà Minh Tánh Khóa 29/TVBQGVN - Bị vc bắn chết trong tù Trảng Lớn, Tây Ninh.

82. Thiếu úy Nguyễn Huế K29/TVBQGVN: mất tích năm 1977 sau khi trốn trạị

83. Th/Uý Trương Ðăng Hậu Cựu SVSQ//TVBQGVN - Tạ thế tại Trại Tù Hà Tây năm 1988.

84. Th/Tá Phan Ngọc Lương (SÐ1/BB) Cựu SVSQ//TVBQGVN - Tổ chức phục quốc bị tử hình tại Chín Hầm, Huế năm 1979.

85. Ðại/Úy Hoàng Trọng Khuê Võ Bị Quốc Gia - Bị xử bắn tại Huế năm 1975.

86. Tr/Uý Nguyễn Ngọc Trụ (Giảng Viên) Văn Hóa Vụ /TVBQGVN Bị xử bắn tại Trại An Dưỡng Biên Hòa năm 1977.

87. Tr/Úy Huỳnh Công Tiết (Giảng Viên) Văn Hóa Vụ /TVBQGVN Mất tích trên đường vượt trại tù CS (trại Đồng Ban Tây Ninh năm 1977)

88. Tr/Úy Nguyễn Văn Chung HLV/TVBQGVN - Tạ thế tại Trại Tù Nghệ Tĩnh không rõ năm.

89. Thiếu Úy Trần Tăng Thành khóa 29 (cùng khóa với tôi) bị cs xử bắn tại Huế sau 30 tháng 4 năm 1975.

90. Trung tá Mai văn Em ( Tư ) khóa 13 . sau 75 trốn trong rừng được 2 năm . CS theo dõi bị bắt vượt ngục và bị bắn.

91. Trung úy Nguyễn Văn Hướng K24 VB , SĐ 3BB vượt traị cải tạo Cây Cầy A ,Tây Ninh cuối 1977 bị cộng sản bắt và giết chết .

92. Th/tá Phạm Văn Tư (Phòng 2/TK Quảng tín) Khoá 19/TVBQGVN Vuợt ngục (cùng Trẩn Văn Bé) 1976, bi bắn tại hàng rào trại Suối Máu rồi tử thương vì không được chửa trị.

(Danh sách vẫn còn tiếp...)

Luôn Luôn Nuôi Chí Hiên Ngang
Không Sờn Nguy Khổ Không Màng Hiển Vinh
..............................
(Sưu Tầm)

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Luôn Luôn Nuôi Chí Hiên Ngang Không Sờn Nguy Khổ Không Màng Hiển Vinh
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Bộ Chỉ Huy
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Bộ Chỉ Huy
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Đà Lạt 1971
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt 1967


Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt Académie Militaire d'Inter-Arms de Dalat (AMIAD). Năm 1955, thoát khỏi sư đô hộ của thực dân Pháp, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thực hiện cuộc cách mạng Quốc Gia và khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Quân Đội Quốc Gia với toàn vẹn chủ quyền được thống nhất chỉ huy dưới danh xưng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Trường Võ Bị Liên Quân cũng nằm trong khuôn khổ cải tổ đó và một lần nữa được cải danh thành Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, do Nghị Định 317/QP/TT ngày 29-7-1959, được Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký. Năm 1960, Ông cũng là người đặt viên đá đầu tiên xây dựng một cơ sở huấn luyện khang trang tọa lạc tại đồi 1515, gần hồ Than Thở, khoảng 5 km phiá Bắc trung tâm thị xã Đà Lạt.
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt Académie Militaire d'Inter-Arms de Dalat (AMIAD). Năm 1955, thoát khỏi sư đô hộ của thực dân Pháp, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thực hiện cuộc cách mạng Quốc Gia và khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Quân Đội Quốc Gia với toàn vẹn chủ quyền được thống nhất chỉ huy dưới danh xưng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Trường Võ Bị Liên Quân cũng nằm trong khuôn khổ cải tổ đó và một lần nữa được cải danh thành Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, do Nghị Định 317/QP/TT ngày 29-7-1959, được Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký. Năm 1960, Ông cũng là người đặt viên đá đầu tiên xây dựng một cơ sở huấn luyện khang trang tọa lạc tại đồi 1515, gần hồ Than Thở, khoảng 5 km phiá Bắc trung tâm thị xã Đà Lạt.
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
OLD PRESS PHOTO FRENCH VIETNAMESE TROOP IN FORMATION INDOCHINA WAR DALAT VIETNAM 1950s - Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt LOS FRANCESES ORGANIZAN LA DEFENSA DE HANOI EN INDOCHINA: En la Escuela de Cadetes de Dalat, Indochina, aparecen en formación tropas vietnamesas y franceses, estacionnadas allí- para la defensa de la cindad de Hanoi y dei delta, contra posibles ataques de los rebeldes communistas. (KP) Google translate: FRENCH ORGANIZE THE DEFENSE OF HANOI IN INDOCHINA: At the School of Cadets of Dalat, Indochina appear formation vietnamesas and French troops, estacionnadas there for the defense of bourhood of Hanoi and dei delta, against possible attacks communistas rebels. (KP)



Nguồn : Page Phóng Viên Chiến Trường

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Địa Danh Xưa khác