Vì sao không quân Trung Quốc không tham chiến trong chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979 ?


Chiến tranh biên giới phía Bắc (CTBGPB) 1979 tuy diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng là cuộc chiến tổng lực, lực lượng 2 bên tham chiến là rất lớn, nhưng chỉ diễn ra trên bộ, và "vắng mặt" lực lượng không quân - lực lượng cốt lõi để quyết định cục diện của chiến tranh hiện đại. Việc không quân TQ không tham chiến nằm ở ý đồ chiến lược lẫn quy mô cuộc chiến, cụ thể như sau:

Trước khi tiến đánh VN, họ đã tính toán sẵng khi đưa hơn 700 chiến đấu cơ các loại bố trí ở các sân bay các tỉnh biên giới, sẵng sàng chi viện hỏa lực khi cần thiết. Nhưng, những máy bay đó chưa 1 lần cất cánh, do nhiều nguyên nhân, chủ quan và khách quan.

Thứ nhất, phía TQ đã quá chủ quan, khi tự tin vào lực lượng trên bộ của mình: hơn 30 vạn quân, gần 600 xe tăng, khoảng 500 khẩu pháo và hơn 1200 khẩu cối và pháo phản lực. Lực lượng nhiều gấp 5, 6 lần so với phía VN - với lực lượng nòng cốt đang tham chiến tại Campuchia. Chính tư tưởng "ăn sáng Lạng Sơn, cơm trưa Hà nộ, tối Phở Sài Gòn" xuất phát từ đây.

Thứ 2, theo nguyên văn từ tài liệu dịch từ phía TQ: "Bắc Kinh cũng tính đến khả năng tham chiến của không quân. Không quân của QGPND sẽ cam kết dùng 18 trung đoàn và 6 phi đội tăng phái để chuẩn bị hỗ trợ cho các chiến dịch mặt đất. Để tránh leo thang xung đột, Quân ủy Trung ương ra lệnh không lực chỉ trợ chiến bên trong lãnh thổ Trung Quốc, trong khi đó lại ra lệnh các đơn vị không quân sẵn sàng yểm hộ cho các chiến dịch dưới đất “nếu cần”, mặc dầu không đưa ra định nghĩa chính thức tình hình thế nào và bao giờ được coi là “cần”. Mệnh lệnh đã quy định rằng bất cứ chiến dịch nào bên ngoài không phận Trung Quốc đều phải được phép của Quân ủy Trung ương." Sự máy móc trong mệnh lệnh phía trung ương cũng hạn chế phần nào khả năng tác chiến của không quân.

Thứ 3 (một trong những lý do thuyết phục nhất), là khả năng sẵng sàng chiến đấu của không quân TQ lúc đó là rất kém. "Nói đến chất lượng bay, nguyên nhân của các sự cố trên đến từ nhiều vấn đề: chất lượng máy bay thấp, có chiếc rơi mất linh kiện khi bay, có chiếc động cơ ngưng hoạt động khi bay, vũ khí trên máy bay thường phát sinh hỏng hóc,... thậm chí còn có sự kiện cánh quạt trực thăng văng khỏi trục khi máy bay khởi động". Trình độ phi công TQ thời đó cũng rất tệ: "Từ năm 1968 đến 1971, đầu vào phi công lên đến vạn người, nhưng đã hạ thấp tiêu chuẩn đầu vào, nhiều nơi do thiếu trang thiết bị nên đã tinh giảm giáo trình và thời gian huấn luyện". Bên cạnh đó, trong 2 năm 1968 và 1989, phi công chỉ được huấn luyện 1 tuần kiến thức cơ bản đã được lên máy bay huấn luyện, bay sơ cấp và bay chiến đấu nửa năm thì được biên chế vào không quân chiến đấu".

Về trang bị, không quân TQ khi đó với số lượng áp đảo nhưng khá lạc hậu. Họ chỉ có 1 ít máy bay MiG-21 do Liên Xô sản xuất, còn lại là hàng nhái sản xuất trong nước: J-5 (nhái MiG-17), J-6 (nhái MiG-19), J-7 (nhái MiG-21)... chất lượng kém, kinh nghiệm chiến đấu thực tế của phi công chỉ là con số 0.

Thứ 4, khi cảm thấy sự cần thiết của không quân, thì phía TQ mới nhận ra rằng: đối thủ của họ - lực lượng phòng không, không quân Việt Nam - không phải là những kẻ "dễ xơi". Không quân TQ năm 1979 chưa bằng 1 góc không quân Mỹ năm 1972, và VN cũng không còn là VN năm 1972.

Về phòng không, ngoại trừ vô số pháo phòng không các loại, tên lửa SA-2, SA-7 (hay A-72) từng làm khiếp sợ phi công Mỹ - VNCH, VN còn được trang bị tên lửa SA-3, loại tên lửa tối tân vào thời điểm đó. Về không quân tiêm kích, tuy hạn chế về số lượng (khoảng 60 chiếc MiG-21, vài chục chiếc MiG-17/19), nhưng không quân VN thừa hưởng kho vũ khí khổng lồ của Mỹ-VNCH sau chiến tranh, với máy bay ném bom A-37, máy bay ném bom F-5, trực thăng vũ trang UH-1... cùng loại máy bay cường kích siêu thanh Su-22 vừa mới trang bị. Hơn nữa, phi công VN đều là những người dày dặn trận mạc, và lịch sử đã chứng minh: yếu tố con người là quan trọng nhất. Một biên đội hỗn hợp của không quân VN có thể làm phía TQ đau đầu. Hiểu rõ ưu thế của đối phương nên phía TQ không dám xem thường.

Bên cạnh đó, không quân TQ không thông thạo địa hình, và khả năng dẫn đường của radar TQ rất kém. Muốn khắc phục điều này, TQ bắt buộc phải đặt các trạm radar gần biên giới, và đó sẽ là mục tiêu "ngon ăn" của pháo binh và không quân VN.

Tóm lại, lực lượng không quân TQ thời điểm đó là rất yếu, sự phiền phức của việc "mang quân đem đánh xứ người" sẽ cao hơn rất nhiều so với những hiệu quả mà nó mang lại. "Trong quá trình chuyển đổi QGPND thành một lực lượng hiện đại vào những năm 1980, có rất ít những nỗ lực được thực hiện nhằm sửa chữa thiếu sót về tư duy quân sự, đó là thái độ luôn luôn coi nhẹ vai trò của của không quân. Kết quả là, nếu có điều gì còn chưa trung thực trong việc rút kinh nghiệm của QGPND thì đó chính là bài học về ưu thế trên không hoặc yểm trợ không quân. Tài liệu của QGPND vẫn cho rằng việc hạn chế khả năng của lực lượng không quân TQ là lý do chính khiến không quân VN không tham gia vào xung đột. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) thậm chí còn nhận xét một cách lố bịch rằng hoạt động giả vờ của không quân Trung Quốc trong cuộc chiến chống lại VN là một “đòn nghi binh khéo léo trong tác chiến không quân”. Nhận xét đó rõ ràng cho thấy vẫn còn sai lầm trong giới lãnh đạo Trung Quốc khi họ tiếp tục đánh giá chưa cao vai trò quan trọng của không quân trong chiến tranh hiện đại..."



Nguồn : Page Tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam (Viet Nam War)

Nếu thấy hay thì hãy chia sẻ nội dung này bạn nhé !


Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nghiên Cứu Lịch sử khác